Hồ Văn Văn Miếu

Điểm vui chơi cuối tuần và giáo dục di sản lý tưởng

Hồ văn văn miếu

Đến ngay với Hồ Văn Văn Miếu

Địa điểm du lịch giáo dục

Địa điểm du lịch lý tưởng cho các bé vừa chơi vừa học

Địa điểm du lịch làng trang phố

Khu du kịch tái hiện khung cảnh làng quê xưa nhưng ngôi làng trong phố

Đây là trang web chia sẻ hữu ích về du lịch

Hãy đến ngay với Hồ Văn Văn Miếu để khám phá những nét đăng biệt của văn hóa xưa cũ

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Khám phá làng Phong Phú với nghề làm giấy dó thủ công lâu đời


Giấy dó làng Phong Phú dai và mỏng, chất lượng tuyệt vời, được nhiều người tin dùng bao đời nay. Chính vì có lịch sử lâu đời, lại giữ được chất lượng ổn định nên người dân làng Phong Phú vẫn tiếp tục gìn giữ và tiếp nối nghề truyền thống mà ông cha để lại. 

Xem thêm: Nghề làm giấy dó truyền thống của dân tộc Việt 
 

Những tờ giấy dó được căng và phơi dưới nắng 

Trời nắng chói chang, bà Loan (51 tuổi) thoăn thoắt phơi từng tờ giấy dó trên bãi đất trống trước nhà. Vừa làm, bà cho biết: “Lúc tôi lập gia đình được bố mẹ cho 5 khuôn seo làm của hồi môn. Từ những khuôn ấy, hai vợ chồng tôi tiếp tục nối nghiệp ông bà, tổ tiên. Đến nay cũng hơn 33 năm theo nghiệp này. Vất vả nhưng chủ động thời gian, tận dụng được nhân công nên gia đình tôi vẫn sống tốt với nghề”. 

Nghề làm giấy dó là nghề thuận theo tự nhiên, chỉ những hôm trời nắng mới làm được vì giấy dó phải phơi ngay. Mỗi ngày vợ chồng bà túc tắc làm cũng đổ được khoảng 100 tờ giấy dó. Nghề làm giấy dó khá vất vả, phải làm thủ công từ đầu đến cuối, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, vậy nên phần lớn những người theo nghề trong làng đều đã có tuổi. Thanh niên chỉ phụ giúp khi có thời gian rảnh, nhưng sau này khi về già, rất có thể họ sẽ lại kế nghiệp, như những bậc chú bác tần tảo trong làng.


 Ông Hà đang cạo bỏ lớp đen bên ngoài vỏ cây niệt, để có tờ giấy dó trắng sáng 

Sản phẩm giấy dó của làng Phong Phú có thể để đến trăm năm cũng không bị mục nát nhờ sợi dó có khả năng hút và nhả ẩm tốt.

Bí kíp làm nên tờ giấy dó nổi tiếng chính là cách giữ lửa. Khi đun cây niệt với nước vôi cần phải giữ nhiệt độ thật cao, có thế thì giấy mới trắng. 
  
Cây niệt đun với nước vôi trong 2 ngày liên tục để có sự mềm nhất định 

“Tất cả các công đoạn đều phải làm thủ công nên đòi hỏi sự cần mẫn chịu khó của người làm. Đã từng có người thử bỏ vỏ cây niệt vào trong máy để nghiền thay cho công đoạn đập bằng đá hoặc gỗ, nhưng kết quả không như mong muốn. Tờ giấy khi thành phẩm bị bở, nát không thể sử dụng được”, ông Hà (57 tuổi) cho biết. Cũng vì lý do đó mà trải qua nhiều thế hệ, người dân nơi đây vẫn chỉ sử dụng phương thức thủ công để làm nghề. 

Ông Trị (50 tuổi) cũng là một người có thâm niên trong nghề làm giấy dó. Gia đình ông chưa bao giờ xem nhẹ nghề này, bởi đây là nghề đã nuôi sống cả gia đình. Đất Nghi Phong cát trắng bạc màu, nhà làm 10 sào ruộng, nhưng năng suất thu hoạch kém, làm nông nghiệp chẳng ăn thua. Ông Trị luôn chịu khó làm thêm nghề phụ để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Một ngày của ông thường bắt đầu từ lúc 4h sáng, chuẩn bị nguyên liệu cho việc tráng hàng trăm khuôn giấy dó đem phơi cẩn thận, rồi mới đi làm đồng… Trưa về, ông cùng vợ con tranh thủ bóc tờ giấy dó xuống khỏi khuôn trước khi tiếp tục đổ lớp khác.  


Bà Loan đang rửa khuôn để chuẩn bị cho việc tráng lên khuôn để làm giấy dó 

Nghề này không làm giàu được, nhưng cũng có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống. Với gần 50 khuôn, mỗi ngày gia đình ông Trị đổ được từ 2-3 lần, có 100-150 tờ giấy dó. Trừ chi phí, vợ chồng ông cũng có khoản tiền kha khá sinh hoạt và lo hai đứa con ăn học đàng hoàng. Không những thế, nhiều hộ còn nhờ vỏ cây niệt để phát triển kinh tế, đưa con cái vào học hành tử tế. 


Thời trước, sản phẩm giấy dó được người làm tự đi tìm mối tiêu thụ. Nhưng nhiều năm trở lại đây đều được các thương lái đến tận nhà thu mua. Tùy vào mục đích sử dụng của khách hàng mà người làm điều tiết để tạo ra tờ giấy dó mỏng hay dày tùy loại.  


Giấy dó thành phẩm 

Năm 2007, làng nghề giấy dó Phong Phú, xã Nghi Phong được công nhận làng nghề cấp tỉnh. Thời điểm đó có trên 60% hộ dân trong làng theo nghề thủ công trên. Tuy nhiên, trong xu thế hiện đại hoá, hiện nay các loại giấy công nghiệp ra đời nên thị trường giấy dó cũng khó cạnh tranh. 

Hiện nay, một số hộ đã chuyển đổi sang nghề khác nhưng vẫn còn nhiều gia đình ngày ngày tráng giấy dó để bán. Ông Nguyễn Đình Lý, Phó chủ tịch UBND xã Nghi Phong cho biết, hiện nay trong xã có khoảng 30 hộ làm nghề giấy dó. Thời điểm hiện tại, dù nghề đã giảm sức nóng, nhưng không thể phủ nhận đây là nghề tạo thu nhập cho nhiều hộ gia đình. Hằng năm, chính quyền luôn trực tiếp xuống thăm hỏi, động viên bà con gìn giữ nghề truyền thống của làng quê.

Trải qua hàng trăm năm, giấy dó Phong Phú vẫn được người sử dụng mua về phục vụ thị trường làm quạt giấy, quấn hương trầm, dán bụng cá biển, làm vàng mã. Nhiều gia đình làm nghề nướng cá đã thử sử dụng loại giấy khác để dán bụng cá, nhưng đều quay trở lại sử dụng giấy dó truyền thống nhờ những đặc tính dai, mỏng.

Nếu hứng thú và muốn trải nghiệm làm giấy dó ngay trong nội đô Hà Nội thì không gian văn hoá Hồ Văn - Văn Miếu chính là nơi bạn nên tìm đến. Tại đây, cảnh làng quê Việt Nam xưa được tái hiện chân thực và sinh động, người thăm qua sẽ được tham gia trải nghiệm làm giấy dó, vẽ tranh dân gian, và rất nhiều các nghề truyền thống khác nữa.


Các bạn nhỏ tham gia trải nghiệm làm giấy dó tại Hồ Văn - Văn Miếu 

Chi tiết về Hồ Văn - Văn Miếu xem tại đây  



(Tổng hợp)


Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Mặt nạ giấy bồi và nỗi lo mai một


Cứ ngỡ mặt nạ giấy bồi chỉ là một trong những món đồ chơi mang lại tiếng cười cho con trẻ mỗi dịp Trung Thu, thế nhưng đi sâu tìm hiểu mới thấy thứ đồ chơi giản dị này còn ẩn chứa nhiều nỗi niềm. Trong khi nhiều người nước ngoài có dịp sang Việt Nam du lịch, họ phải tìm bằng được mặt nạ giấy bồi để mua về làm quà thì không ít người trẻ Việt lại cảm thấy xa lạ với món đồ chơi dân gian này. Có lẽ đây cũng chính là nỗi lo lắng của những ai muốn gìn giữ những nét văn hóa truyền thống Việt Nam, vì sao chúng cứ mai một dần? 


Món đồ chơi truyền thống của trẻ em đang đứng trước nguy cơ mai một


Nghề lấy công làm lãi 


Nếu có dịp hỏi han những người Hà Nội về món quà họ chuẩn bị cho con cái mình nhân dịp Trung Thu thì số đông sẽ có cùng câu trả lời, họ đều muốn mua cho con và các cháu mặt nạ được làm bằng giấy bồi chỉ bởi chúng rất an toàn, màu sắc rất đẹp và có nhiều hình thù bắt mắt. Câu trả lời tưởng như sẽ mang đến niềm vui cho những người làm nghề, nhưng thực tế lại không hẳn như vậy... 

Trung bình mỗi ngày một nghệ nhân chỉ có thể làm từ 6 đến 7 chiếc mặt nạ. "Như thế cũng là nhiều lắm rồi", ông Nguyễn Văn Hòa - một nghệ nhân làm mặt nạ giấy bồi tâm sự. Rất khó tưởng tượng nhưng vẫn phải tin, ở cả Thủ đô này chỉ còn duy nhất một gia đình gìn giữ nghề làm mặt nạ giấy bồi. Đồng hành với ông Hòa hơn 3 thập kỷ qua chính là bà Đặng Hương Lan - người bạn đời của ông. Tính gộp mỗi ngày làm việc của cả 2 người thì họ chỉ có thể làm ra 14, 15 chiếc mặt nạ. Cầu kì, tỉ mỉ là vậy nhưng mỗi sản phẩm bán ra chỉ từ 25-35.000đồng tùy kích cỡ. Bà Lan chia sẻ: "Tuy vật liệu chẳng đáng bao nhiêu nhưng công thì nhiều, chúng tôi chỉ lấy công làm lãi".


Gia đình làm mặt nạ giấy bồi duy nhất ở Hà Nội chia sẻ chuyện "lấy công làm lãi"

Để có một sản phẩm đẹp, đạt yêu cầu, trước hết phôi phải cứng và sắc nét. Muốn có phôi như thế, nghệ nhân phải bồi từ 5 đến 6 lớp giấy bìa, đến khi nào đạt được độ dày khoảng trên 1mm thì mới đạt yêu cầu. Hơn nữa, nghệ nhân phải rất cần cù, tỉ mỉ thì mới làm ra được mặt nạ. Khi vẽ mặt nạ để hoàn chỉnh một sản phẩm, người làm nghề phải dồn tất cả hồn mình để "truyền" vào mặt nạ đó, có như thế, sản phẩm mới trở nên sinh động, tạo ấn tượng. Hơn nữa, phải được đem ra phơi dưới trời nắng to thì mặt nạ mới có mùi thơm và cứng cáp. Sau khi phơi khô, nghệ nhân mới bắt đầu ngồi sơn, vẽ từng chi tiết, nhưng không đơn giản vẽ một lần là xong, vẽ xong một chi tiết phải đem phơi cho khô rồi mới vẽ tiếp được. 

Công đoạn nào cũng phải làm rất cẩn thận thì sản phẩm mới đẹp, nếu làm ẩu thì mặt nạ sẽ bị nhăn, không lì mặt, rúm ró... Trong quá trình vẽ, người làm nghề cũng không được phép run tay, nếu không nét sẽ bị nhòe, thậm chí chỉ cần một giọt sơn vô tình chảy vào cũng khiến chiếc mặt nạ sắp hoàn thiện trở thành... sản phẩm bị loại! 


Để làm ra một chiếc mặt nạ giấy bồi cần trải qua rất nhiều công đoạn 
Làm nghề này nhọc nhằn là thế nhưng không giống với suy đoán của người ngoài, niềm hạnh phúc vẫn hiện rõ trong ánh mắt của đôi vợ chồng nghệ nhân làm mặt nạ giấy bồi duy nhất ở Thủ đô. Họ hài lòng với công việc của mình, lấy công làm lãi thì có sao, họ vẫn duy trì được cuộc sống, công việc và thói quen hàng ngày. 

Niềm hạnh phúc tưởng như khó giải thích ấy thực ra vô cùng giản dị. Ông Hòa cho biết, ông được bố vợ truyền nghề làm mặt nạ giấy bồi khi ông về làm rể. Kể từ đó, những chiếc mặt nạ giấy bồi quanh quẩn bên ông, ăn cùng, thức cùng, và có cùng giấc mơ với ông chủ trong suốt hơn 30 năm qua. Căn hộ rộng chừng 20m2 của ông bà được chia làm hai, một bên để ông ngồi bồi giấy làm phôi mặt nạ, một bên để bà xếp sản phẩm đã được làm hoàn thiện chờ đem đi bán. Với 22 chiếc khuôn được đúc bằng xi măng, giấy vở học sinh đã qua sử dụng, giấy bìa các tông, giấy báo và bột sắn quấy làm hồ, sơn tổng hợp các màu, vợ chồng ông Hòa đã cho ra đời biết bao sản phẩm mặt nạ đẹp mắt. 


Nhóm hoạ sĩ Trường đại học Mỹ thuật hướng dẫn các em thiếu nhi làm mặt nạ bằng giấy bồi tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Chung một nỗi lo 

Hàng trăm, hàng ngàn sản phẩm truyền thống Việt hiện nay đều chung nỗi lo mang tên "mai một". Trong số các loại hình đồ chơi Trung Thu, mặt nạ giấy bồi là loại hình lâu công nhất. Xa xưa, việc làm mặt nạ hay các đồ chơi khác thường được bố mẹ, hoặc các bác nông dân khéo tay làm và hướng dẫn cho bọn trẻ trong làng cùng tham gia. Ngoài việc hướng dẫn cho trẻ những kỹ năng khéo léo của các đồ chơi thủ công, họ còn kể cho chúng nghe những tích khác nhau về những chiếc mặt nạ được làm. Những câu chuyện như kết nối một mạch nguồn với truyền thống và tạo nên sự gắn kết thế hệ. Sau này, việc làm mặt nạ hay đồ chơi dân gian không còn duy trì ở từng gia đình mà được chuyên môn hóa. Các nghệ nhân đến mùa trăng, sẽ làm hàng loạt mặt nạ với nhiều khuôn dáng khác nhau rồi đi bán ở hầu hết các làng quê của Việt Nam. Nhưng đó là những gì diễn ra trong quá khứ, ngày nay, sự mai một với tốc độ chóng mặt của nó khiến những nhà nghiên cứu văn hóa cảm thấy... sốc. 


Chiếc mặt nạ giấy bồi là món đồ chơi truyền thống lâu đời cần được gìn giữ 

Trong cuộc sống hiện đại, giữa muôn vàn món đồ chơi sặc sỡ, cùng sự xuất hiện của trò chơi điện tử với hàng loạt hình thức giải trí theo xu hướng độc hại và tiêu cực thì những thứ đồ chơi an toàn, giàu tính nhân văn lại trở nên xa lạ. Mặt nạ giấy bồi ngày càng vắng bóng và ít người mua. Làm thế nào để kết nối người trẻ Việt với những nét văn hóa dân gian? Đây là câu hỏi mà ngay cả những nhà nghiên cứu văn hóa cũng chưa thể trả lời được. Những chiếc mặt nạ vừa đáp ứng được nhu cầu giải trí vừa mang những giá trị văn hóa truyền thống, và chứa đựng biết bao câu chuyện hay vẫn không ngừng mai một và... mất tích nếu không còn ai tiếp nối.


Mặt nạ giấy bồi rất cần "người truyền lửa" và kế nghiệp 

Thiết nghĩ, việc giữ gìn và phát huy nghề làm mặt nạ giấy bồi nói riêng, nghề truyền thống nói chung cần một sự khích lệ kịp thời để người làm nghề không phải... cười ra nước mắt. Hơn ai hết, họ đang góp phần gìn giữ nghề truyền thống và làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.


Tiếp cận món đồ chơi truyền thống 


Nỗi lo mai một hiện hữa, tuy nhiên, hiện nay các gia đình thường cho bé đến không gian văn hoá Hồ Văn - Văn Miếu để tìm hiểu thêm về mặt nạ giấy bồi bất cứ lúc nào. Tại đây các bé có thể thoả thích sáng tạo tác phẩm của riêng mình trên chiếc mặt nạ truyền thống.


Các em nhỏ tha hồ sáng tạo chiếc mặt nạ giấy bồi của riêng mình tại Hồ Văn - Văn Miếu 

Chi tiết xem tại đây 




(Tổng hợp)


Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Mặt nạ giấy bồi - món đồ chơi truyền thống lâu đời của người Việt

Nói về đồ chơi Trung thu, ta không thể không nhắc đến mặt nạ giấy bồi với đa dạng các hình thù chú Tễu, mặt nạ Thị Nở, mặt nạ ông Địa, hay mới hơn là mặt nạ superman, người nhện… Đây là món đồ chơi dân gian truyền thống được nhiều thế hệ yêu thích. Tuy nhiên, không mấy ai biết, đằng sau nụ cười thích thú của trẻ thơ là những giọt mồ hôi đầy tâm huyết của những người nghệ nhân làm mặt nạ giấy bồi. 


Mặt nạ giấy bồi - món đồ chơi tuổi thơ 

Trên phố Hàng Than (Ba Đình, Hà Nội), còn duy nhất gia đình ông Nguyễn Văn Hòa (64 tuổi) và vợ Đặng Hương Lan (60 tuổi) vẫn theo nghề làm mặt nạ giấy bồi. Gần 40 năm gắn bó với công việc này, nghề làm mặt nạ giấy bồi vừa mang lại thu nhập và lưu giữ giá trị của nghề truyền thống cha ông để lại. 


Gia đình nghệ nhân cuối cùng làm mặt nạ giấy bồi tại Hà Nội 

Ông Hòa cho biết, nghề làm mặt nạ giấy bồi là nghề truyền thống của gia đình vợ. Gia đình bà Lan có 7 anh chị em nhưng không có ai theo nghề của các cụ. Năm 1979, khi 2 ông bà lấy nhau, bố vợ đã truyền nghề cho ông. Hiện nay, gia đình ông là gia đình duy nhất ở Hà Nội còn theo nghề này và làm quanh năm ngày tháng. Cũng dễ hiểu bởi một lẽ, mặt nạ giấy bồi chỉ bán được nhiều khi mùa Trung thu tới. Căn phòng rộng chừng 20m2 của ông bà được chia làm hai, một bên để ông ngồi bồi giấy làm phôi mặt nạ, một bên để bà xếp sản phẩm đã được làm hoàn thiện chờ đem đi bán.

Những chiếc mặt nạ giấy bồi thô
Ông Hòa chia sẻ thêm: “Chúng tôi là những người lao động về hưu sớm do mất sức. Trước đây, nghề này coi như nghề phụ để kiếm thêm thu nhập. Sau khi về hưu, chúng tôi mới toàn tâm toàn ý làm công việc này”. 


Gia đình ông Hoà có 22 kiểu khuôn mặt nạ khác nhau, rất đa dạng và phong phú 

Nguyên liệu làm mặt nạ giấy bồi cần có hồ, giấy, sơn trang trí…". Hiện gia đình ông Hòa có 22 kiểu khuôn mặt nạ khác nhau. Mỗi khuôn cho một mặt nạ hình dáng khác nhau. 


Công đoạn làm mặt nạ giấy bồi khá tỉ mỉ:

Đầu tiên phải nấu hồ, sau đó phết hồ vào những tờ giấy A4. Giấy này được bồi vào từng khuôn lần lượt từng lớp một. Khi đạt đến một độ dày nhất định, phôi mặt nạ đã hoàn thiện. 


Bồi giấy là công đoạn đầu tiên làm ra chiếc mặt nạ giấy bồi 

Bà Lan cho biết: "Để hoàn thiện mỗi chiếc mặt nạ đòi hỏi sự kì công, tỉ mỉ. Ai cũng có thể nắm được các bước làm, tuy nhiên, để có mặt nạ đẹp, mang đúng hồn cốt cần sự khéo tay và dành tâm huyết cho nó. Mỗi khi vẽ xong một chi tiết trên mặt nạ phải mang ra phơi ngay. Sau khi mặt nạ khô mới vẽ các phần khác". 


Bà Lan đang phơi những chiếc mặt nạ 

Những chiếc mặt nạ sau khi dán xong sẽ được phơi khô, mà phải phơi khô tự nhiên mới giữ được hình dáng ban đầu. Nếu dùng máy sấy khô, mặt nạ sẽ bị biến dạng, cong vênh, khó đeo. Vì thế, chỉ những ngày nắng, ông bà mới sản xuất còn ngày mưa thì tạm nghỉ. Tô màu là một trong những khâu quan trọng nhất bởi nó sẽ quyết định phần “hồn” của chiếc mặt nạ. “Mỗi lần tô chỉ được tô một màu. Màu này khô thì tô tiếp màu mới. Mặt nạ nhiều màu thì phải tô nhiều lần để đảm bảo màu sắc luôn được đẹp, không bị lấm lem. Tất các giai đoạn đều cần sự tỉ mỉ, khéo léo, một chút nhẫn nại để tạo ra những hình thù như mình mong muốn.



Tô màu thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo của đôi tay nghệ nhân 

Gia đình ông Hòa không ngần ngại hướng dẫn cho những người có nhu cầu học nghề cách thức làm mặt nạ. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa ai học được cách làm, bởi họ làm lấy số lượng, thương mại. Việc học hỏi không có tâm huyết như vậy sẽ khó duy trì và phát triển nghề này. 


Những chiếc mặt nạ chỉ được phơi vào những ngày nắng

Trung bình mỗi ngày, gia đình ông chỉ hoàn thiện được khoảng 30 chiếc mặt nạ. Mỗi mặt nạ phải đặt lên, hạ xuống làm các bước ít nhất 7 lần mới hoàn chỉnh. Tuy nhiên, giá thành mỗi sản phẩm chỉ dao động từ 30.000-50.000 đồng/chiếc. 


Dù phải trải qua rất nhiều công đoạn để hoàn thiện nhưng mặt nạ giấy bồi được bán với giá thành khá rẻ 

Mỗi dịp Trung thu, gia đình ông Hòa phải làm việc hết công suất. Vài năm trở lại đây, xu hướng người tiêu dùng trong nước ưa chuộng đồ chơi truyền thống. Vì vậy, nhà ông Hòa luôn nấp nập khách trong và ngoài nước tìm đến mua mặt nạ truyền thống. 


Trẻ nhỏ chơi đùa với mặt nạ giấy bồi tại Hồ Văn - Văn Miếu 
Tuy là món đồ chơi cho dịp Trung thu nhưng hiện nay các gia đình có thể cho bé đến không gian văn hoá Hồ Văn - Văn Miếu để tìm hiểu thêm về mặt nạ giấy bồi bất cứ lúc nào. Tại đây các bé có thể thoả thích sáng tạo tác phẩm của riêng mình trên chiếc mặt nạ truyền thống.


Các em nhỏ tha hồ sáng tạo chiếc mặt nạ giấy bồi của riêng mình tại Hồ Văn - Văn Miếu 

Các bé thích thú tô vẽ mặt nạ giấy bồi, hãy cho bé đến ngay Hồ Văn - Văn Miếu đi thôi! 

Chi tiết xem tại đây 




(Tổng hợp)


Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

Nón lá Việt Nam

Từ xưa đến nay, đời sống của người dân Việt Nam gắn liền với chiếc nón. Người nông dân đội nón ra đồng, nữ sinh áo trắng đạp xe đi học,... Chiếc nón không chỉ là một vật dụng cần thiết mà còn tôn lên vẻ đẹp của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Tà áo dài trắng và chiếc nón là hình ảnh đi kèm với nhau 

Khi nhắc tới Việt Nam là trong ấn tượng của người ta bất giác hiện lên hình ảnh chiếc nón nên thơ và tà áo dài phất phơ, đây chính là hình ảnh đặc thù rất Việt Nam về mặt trang phục. Chiếc nón và tà áo dài gắn liền dáng vóc thon thả của các thiếu nữ cũng đã trở thành phù hiệu mang tính tiêu chí về mặt thị giác đối với Việt Nam. Chẳng thế mà ai đó đã đặt cho Việt Nam cái tên gọi “Đất nước của những chiếc nón”.  

Nữ sinh dịu dàng trong tà áo trắng và chiếc nón bài thơ 

Nón Việt Nam đã có bề dày lịch sử sâu đậm. Theo ghi chép thì ngay từ thế kỷ thứ XIII chiếc nón đã trở thành thứ vật trang sức làm đẹp cho cung tần mỹ nữ trong cung đình đời nhà Trần. Nhưng thời đó thì chiếc nón được tạo hình khá đơn sơ, đem lại cảm giác khá dày và nặng. Nón đã được cải tiến và không ngừng phát triển theo dòng chảy của lịch sử và ngày càng trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát và duyên dáng. Xoay quanh chiếc nón đã để lại nhiều giai thoại, mà ấn tượng hơn cả là giai thoại về tình yêu. Chiếc nón Việt Nam gồm 16 đường vòng quanh vành nón, tại sao lại chỉ có 16 đường vòng? Tương truyền rằng các cô gái Việt Nam khi đã yêu một chàng trai nào đó thì sẽ tự tay đan nón để tặng và cùng chàng trai thưởng thức cảnh đêm trăng vằng vặc hôm 16 âm lịch. 


Tại vùng đồng bằng Bắc Bộ có giống cây cọ, bởi do ánh nắng chiếu xạ trong thời gian dài mà ngả sang màu trắng bạc. Người ta thường dùng loại lá này làm vật liệu để đan nón. Trước hết, lá cọ được làm trắng và phơi khô, sau đó được đan xếp trên chiếc vành khuôn tre theo từng lớp một và cuối cùng hình thành chiếc nón. 


 Nón là người bạn theo người nông dân ra đồng 

Nón Việt Nam dồi dào về chủng loại, trong lịch sử thì người cao tuổi, trẻ em, quan chức và binh sĩ đã từng sử dụng những loại nón khác nhau, với các vùng thì chiếc nón cũng thể hiện những nét đặc sắc riêng độc đáo của mình. Tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng thì thịnh hành loại nón được sơn màu đỏ; người miền Trung thì sử dụng chiếc nón nhẹ nhàng được đan bằng loại lá cây già. Ấn tượng hơn cả là chiếc nón ở xứ Huế, tạo hình nhẹ nhàng tinh xảo, bên cạnh khâu chọn vật liệu cầu kỳ, những người thợ đan nón còn vẽ tranh hay đề thơ giữa các lớp lá cọ trên vành nón. Cầm chiếc nón soi qua ánh nắng hiện lên rõ nét những đồ họa và bài thơ đề trên đó, cảm nhận được cái tứ thơ độc đáo qua chiếc nón, chẳng thế mà chiếc nón cũng được đặt luôn cho tên gọi là “Nón bài thơ”.  


Nón được bán trong một phiên chợ 

Các cô gái Việt Nam yêu thích chiếc nón và coi đó như thứ đồ trang sức cho bản thân. Và chiếc nón cũng mang đượm giá trị thẩm mỹ đặc thù, thường thì các cô gái sẽ lựa chọn chiếc nón tùy theo khuôn mặt, gam màu trang phục để hình thành một cái đẹp hài hòa chỉnh thể cho mình, và ngay cả quai nón cũng hết sức cầu kỳ, thường sử dụng vật liệu lụa mềm mại khiến cho cả chiếc nón tăng thêm cảm giác nhẹ nhàng và đầy linh cảm. 

Chiếc nón như tô điểm cho các thế hệ nữ sinh Việt 

Trong lĩnh vực nghệ thuật thì cùng với tà áo dài, chiếc nón cũng đã trở thành nội dung không thể thiếu được trong những buổi biểu diễn thời trang làm tăng thêm vẻ thùy mị thướt tha của các cô gái Việt Nam. Các nhà nghệ thuật Việt Nam cũng phát hiện và khai thác giá trị thẩm mỹ qua sự kết hợp giữa chiếc nón với tà áo dài để hình thành điểm nhấn về cái đẹp trên sân khấu, khéo kéo kết hợp một cách nghệ thuật, sáng tác ra nhiều chương trình biểu diễn giành được sự ưa chuộng rộng rãi của khán giả, và cũng thể hiện tính cách và nét đẹp thùy mị kín đáo của người phụ nữ Việt Nam.


Nón Việt Nam với sự nổi tiếng vươn xa toàn cầu 

Theo đà chuyển dịch của thời gian và sự phát triển của xã hội, một phần lớn những chiếc nón Việt Nam đã từ vai trò đội nắng che mưa chuyển dịch thành thứ đồ trang trí mang giá trị thẩm mỹ nghệ thuật; bên cạnh đó, cũng bởi do chiếc nón mang dấu ấn đượm đà sắc thái Việt Nam mà cũng đã trở thành thứ đồ lưu niệm về mặt văn hóa được bè bạn quốc tế ưa chuộng. Chiếc nón giản dị, đơn sơ mà bao hàm nhiều giá trị về văn hóa lịch sử Việt Nam, có lẽ đây cũng là nguyên do quan trọng khiến cho nó vẫn được lưu tồn và không ngừng phát triển trong thời đại tôn sùng sự thực dụng như ngày nay.


Chiếc nón Việt Nam giản dị sẽ lưu danh muôn đời 

Nếu ưa thích tìm hiểu về chiếc nón, bạn có thể đến với không gian văn hoá Hồ Văn - Văn Miếu để có thể tìm hiểu và tự tay vẽ cho mình những chiếc nón lá thật xinh xắn. 

Gian hàng xinh xắn ở Hồ Văn - Văn Miếu 

Cho các gia đình tha hồ trổ tài sáng tạo nên chiếc nón Việt 


Chi tiết xem tại đây.



(Tổng hợp)




Thứ Năm, 11 tháng 10, 2018

Tranh dân gian - niềm tự hào dân tộc Việt


Tranh dân gian là một phần không thể thiếu của nền văn hoá Việt Nam vì nó chứa đựng những tinh hoa của dân tộc. Hiểu về tranh dân gian cũng là một cách chúng ta giữ gìn và bảo tồn nền văn hoá lâu đời ấy. 


Lịch sử 


Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh. Về cơ bản có hai loại tranh chính là tranh Tết và tranh thờ. Sở dĩ tranh dân gian Việt Nam xuất hiện rất sớm là bởi vì nó với hai loại chính là tranh tết và tranh thờ xuất hiện gần như cùng lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên. Vào thời nhà Lý (thế kỷ 12) đã bắt đầu xuất hiện những gia đình hay thậm chí là cả một làng chuyên làm khắc ván, làm tranh. Đến cuối đời nhà Trần nhiều nơi đã in được tiền giấy (là một cách thể hiện của tranh dân gian) và sang đời nhà Hồ tiền giấy đã được phát triển mạnh. Tời thời kỳ Lê sơ việc in khắc tranh đã được tiếp thu thêm kỹ thuật khắc ván in của Trung Quốc và sau khi vào Việt Nam đã được cải tiến thêm cho phù hợp. Cùng với đó là sự phân hoá của tranh dân gian xuất hiện ngày càng rõ nét. Đến đời nhà Mạc (thế kỷ 16) một thay đổi đặc biệt đã xảy ra, tranh dân gian không còn là sản phẩm riêng của những người nông dân nghèo khó nữa, mà đã được cả tầng lớp quý tộc ở kinh thành Thăng Long ưa thích, thường sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán. Sang thế kỷ 18 - 19, tranh dân gian đã dần đi vào giai đoạn ổn định và phát triển mạnh mẽ. Nghề làm tranh đã lan truyền rộng rãi hầu khắp cả nước. Cùng với đó là sự phân hóa, những dòng tranh mới xuất hiện, được gọi tên theo địa danh nơi sản xuất, đã có những phong cách riêng của mình. Nét riêng của mỗi dòng tranh được thể hiện ngay từ quy trình làm tranh cũng như trong mỗi đường nét của tranh. Đó là sự khác biệt giữa kỹ thuật khắc ván in, kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh, cách pha chế tạo màu sắc riêng... 




Những bức tranh dân gian của làng tranh Đông Hồ nổi tiếng 


Đặc điểm 


Tranh dân gian Việt Nam dù có nhiều dòng tranh khác nhau nhưng nhìn chung đều được dựng hình theo kiểu lấy các nét khoanh, lấy các mảng màu và bao lại toàn hình. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau. Cách tạo màu cũng vậy, tất cả đều nhằm làm cho bức tranh thật dễ nhìn. 



Ở góc độ nào ta cũng thấy sự tươi vui, náo nhiệt trong bức tranh 


Cách vẽ, in ấn


Do đặc điểm của tranh dân gian là để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, phục vụ việc thờ cúng, trang hoàng cho ngày Tết cho nên cần phải có số lượng lớn mà giá cả không được đắt. Vì thế mà người làm tranh đã sử dụng phương pháp khắc ván rồi từ đó sao in ra nhiều bức tranh. Nhìn chung cách in tranh chủ yếu là sử dụng ván khắc. Các bản ván khắc chủ yếu làm từ gỗ. Đầu tiên nghệ nhân sẽ khắc lên bản gỗ đường nổi thể hiện những đường nét chính của tranh, sau này khi in tranh ra giấy, người làm tranh lại tiếp tục tô vẽ để hoàn thiện bức tranh đó, còn đối với một số tranh đơn giản thì người thợ không cần tô vẽ thêm nữa mà tranh được đưa ra khi in xong. Nghệ thuật in tranh qua các bản gỗ khắc nổi xuát hiện từ xa xưa, được lưu truyền từ đời nay qua đời khác. Ngoài các dòng tranh sử dụng phương pháp khắc thì còn có những bức tranh vẽ tay của các nghệ nhân. Phương pháp vẽ tranh trực tiếp này chủ yếu được dùng ở vùng các dân tộc thiểu số ở vùng núi miền Bắc như người: Tày, Nùng, Dao... 



Bức tranh Lợn nổi tiếng của dòng tranh Kim Hoàng 


Nguyên liệu và cách tạo màu cho tranh 


Tranh thường được in hoặc vẽ trực tiếp lên giấy. Loại giấy phổ biến thường được các dòng tranh dùng hơn cả là giấy dó. Từ loại giấy này có thể làm ra giấy điệp, loại giấy mà tranh Đông Hồ sử dụng in hình. Đặc điểm của loại giấy này là độ bền rất cao, mà lại xốp nhẹ, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc gòn gẫy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó giúp cho các bức tranh không bị ẩm mốc, trường tồn cùng thời gian. Mỗi dòng tranh thường có cách tạo màu, pha chế màu sắc riêng, nhưng nhìn chung thì màu sắc cho những bức tranh thường được tạo nên từ những nguyên liệu đơn giản, dân dã bằng rất nhiều phương pháp khác nhau. 



Tranh Đông Hồ với tên "Chim Lồng" nổi tiếng 

Ví dụ như trong tranh Đông Hồ, thường chỉ có 3 đến 4 màu mà thôi, màu sắc được tạo nên từ: 


  • Than xoan tạo màu đen 
  • Rỉ đồng tạo màu xanh, 
  • Hoa hòe tạo màu đỏ, 
  • Lá chàm tạo màu xanh mát, 
  • Màu vàng ấm lấy từ hoa hoè hay quả dành dành, 
  • Màu trắng óng ánh thì dùng vỏ trai điệp ở biển nghiền mịn 
  • Màu đen của tranh được làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, 
  • Màu vàng cũng tạo nên từ hoa hoè, 
  • Màu chàm từ các nguyên liệu của rừng núi, 
  • Màu son của sỏi đồi tán nhuyễn. 

Những màu sắc đó lại được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh Đông Hồ một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được. 


Bố cục của tranh 


Hầu hết tranh dân gian được vẽ theo quan niệm "sống" hơn "giống". Đường nét của mỗi bức tranh hết sức gạn lọc, thuần khiết, cốt sao rung cảm thẩm mỹ cho người xem hơn là vẽ đúng luật. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau. 



Bức tranh dân gian vẽ tứ linh


Đề tài và nội dung của tranh dân gian 


Do ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã cho nên đề tài của tranh hết sức phong phú. Tranh phản ánh từ những gì gần gũi, thân thiết nhất với người dân cho đến những điều thiêng liêng cao quý trong các tranh thờ. Những truyện Nôm như Truyện Kiều và Nhị Độ Mai cũng được dùng làm đề tài tranh. Truyện Kiều thì có cảnh ba chị em đi tảo mộ gặp Kim trọng. Nhị Đọ Mai thì vẽ cảnh Hạnh Nguyên đi cống Hồ. Những đề tài dân dã như: cóc, chuột, đàn gà, hái dừa, đánh ghen, khiêng trống, đánh vật... Cùng tồn tại với những đề tài như: Phú Quý, Tố Nữ, ... Lịch sử Việt Nam cũng là một đề tài được tranh dân gian đề cập đến rất nhiều, như: bà Trưng Trắc cưỡi voi xung trận, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận... rồi sang thời kỳ lịch sử hiện đại có Việt Nam độc lập, bình dân học vụ, bắt sống giặc lái máy bay, Bác Hồ về thăm làng... Nội dung của tranh cũng hết sức phong phú, đa dạng. Mỗi bức tranh đều mang một ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều góc độ tâm trạng của con người, mang trong nó là cả những ước vọng của người dân, từ những ước mong giản dị cho tới những điều cao quý. Đó có thể là mong ước về một cuộc sống no ấm của nhà nông với sự thể hiện của tranh "Mẹ con đàn lợn", hay sự thể hiện ý chí kiên cường bất khuất của đấng nam nhi với "Tranh gà trống" sặc sỡ và oai vệ, và nó cũng thể hiện cho 5 đức tính quý của con người: văn (vẻ đẹp – mào gà), vũ (cứng rắn – cựa gà), nhân (lòng thương yêu đồng loại – khi kiếm được mồi luôn gọi đàn đến cùng ăn), dũng (sức mạnh – gặp kẻ thù thì kiên quyết chống lại), tín (hàng ngày báo giờ rất đúng). Tranh gà đẹp và ý nghĩa như thế, nên nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã viết trong bài thơ Chợ têt: "Lũ trẻ còn mải ngắm bức tranh gà/ Quên cả chị bên đường đang đứng gọi". Còn tranh "Đám cưới chuột" lại là một minh chứng sống động và hóm hỉnh cho quan hệ mạnh hiếp yếu trong xã hội. Chuột làm đám cưới phải lo lễ vật cống cho mèo, cầu xin mèo để yên cho đám cưới được tiến hành. Dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tranh dân gian của các dòng tranh đều có điểm giống nhau là luôn đề cao cái đẹp, đề cao đạo lý làm người, giáo dục những phẩm chất tốt và cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Về nội dung, tranh dân gian Việt Nam có thể chia 4 nhóm: 


1. Tranh thờ: được các trung tâm làm tranh dân gian dành một tỉ lệ lớn. Sử dụng ở các chùa, đền, điện, phủ và nhà dân để canh gác, trừ tà, yểm quỷ (“Vũ Đình - Thiên Ất”, “Tiến Tài - Tiến Lộc”, “Táo quân - Thổ công”, “Ngũ Hổ”...). Tranh làng Sình (Huế), Đồ Thế (Nam Bộ) - theo mê tín để đốt thế mạng cho người sống; 

2. Tranh chúc tụng: chủ yếu là tranh Tết (“Gà - Lợn”, “Thất Đồng”, “Tam Đa”...); 
3. Tranh sinh hoạt: phong phú, vui vẻ, đôi khi có tính châm biếm nhẹ nhàng (“Tứ quý”, “Tứ dân”, “Đánh ghen”, “Hứng dừa”...); 
4. Tranh minh hoạ - lịch sử: được chọn lọc để miêu tả lí thú (“Truyện Kiều”, “Trê - Cóc”, “Bà Triệu cưỡi voi”, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ...). 


Những dòng tranh chính 


Cùng với những đổi thay của đất nước, tranh dân gian cũng vậy, có nhiều dòng tranh xuất hiện. Có dòng tranh thì phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có những dòng tranh nhanh chóng biến mất. Ngày nay, dù thời gian đã làm mai một đi, các dòng tranh dân gian hiện không còn ở thời kỳ cực thịnh, nhưng những giá trị to lớn của mỗi dòng tranh vẫn còn đó, như là một chứng tích của xã hội Việt Nam một thời, nó sẽ vãn mãi là di sản của dân tộc Việt Nam. Có một số dòng tranh dân gian chính đã một thời cực thịnh và ngày nay còn lưu giữ được một phần, như: 

* Tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) 
* Tranh Hàng Trống (Hà Nội) 
* Tranh Kim Hoàng (Hà Tây) 
* Tranh làng Sình (Huế) 


Dòng tranh dân gian Đông Hồ 


Nhắc tới tranh dân gian Việt Nam không thể không nói tới dòng tranh khắc gỗ Đông Hồ. Dòng tranh này ra đời từ khoảng thế kỷ 17 và phát triển cho đến nửa đầu thế kỷ 20 sau đó suy tàn dần. Mang trong mình những nét tinh túy riêng với những giá trị văn hóa to lớn. Những khác biệt của dòng tranh này so với cách dòng tranh khác được thể hiện từ những khâu như vẽ mẫu, khác bản in, sản xuất và chế biến màu cho đến in vẽ tranh. Đây là dòng tranh khắc ván, sử dụng ván gỗ để in tranh, tranh có bao nhiêu màu thì có bấy lần in. Dòng tranh này có đề tài rất phong phú, nó phản ảnh hầu như tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày cũng như những mối quan hệ xã hội ở miền nông thôn Bắc Bộ. Từ những gì dân dã nhất như hái dừa, đánh ghen, gà trống,... cho tới những bức tranh thờ: Phú Quý, Nhân Nghĩa... Do đề tài gần gũi tranh Đông Hồ đã được người dân đón nhận và sớm đi vào đời sống văn hoá của họ. Mỗi khi Tết đến dường như hầu hết các gia đình ở nông thôn miền Bắc đều có treo một vài tờ tranh Đông Hồ. Cùng với thời gian, với sức mạnh mang trong mình, tranh Đông Hồ ngày càng lan tỏa ra các vùng xung quanh, để rồi nó đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sông văn hóa tinh thần của người dân. Dù đã có thời gian đi vào lãng quên, nhưng ngày nay dòng tranh này vẫn còn giữ được những giá trị to lớn của nó. Tranh Đông Hồ vẫn tồn tại như là một biểu tượng văn hoá của người dân Việt. Các tác phẩm : Gà mái , Bà Triệu , Thạch Sanh , Hứng dừa , Gà Đại Cát , Đám cưới chuột 



Bức tranh Vinh Hoa hình em bé ôm gà cũng vô cùng nổi tiếng 


Dòng tranh Hàng Trống 


Tranh Hàng Trống là một dòng tranh dân gian được làm chủ yếu ở các phố Hàng Trống, Hàng Nón... của Hà Nội. Dòng tranh này có nhiều điểm riêng biệt so với các dòng tranh dân gian khác. Nhìn chung thì tranh Hàng Trống có phần nổi trội hơn về thể loại tranh thờ, do ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo, với hình tượng tương đối giản dị mà thể hiện khả công phu, không bao giờ thiếu sắc thái uy vệ về ý nghĩa. Tranh được tạo hình không giống tranh hiện đại mà cũng không giống tranh cổ điển. Với các gam màu chủ yếu là lam, hồng, đôi lúc có thêm lục, đỏ, da cam, vàng... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ sao cho thật thuận mắt và ưa nhìn. Khác với dòng tranh Đông Hồ, nó không được in tất cả bằng ván khắc mà chỉ in "một nửa", in những đường nét chính sau đó lại tô vẽ lại, cụ thể kỹ thuật tranh Hàng Trống kết hợp đường nét in đen từ bản khắc gỗ, với việc tô màu phẩm bằng tay, dùng bút mềm quệt phẩm nước, luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt tinh tế làm cho màu sắc rất uyển chuyển. Nhờ vậy, mà nó đáp ứng được đòi hỏi của khách mua tranh chốn kinh kỳ. Các tác phẩm : Ngũ Hổ , Bịt mắt bắt dê , chợ quê , Phật Bà Quan Âm 

Bức tranh dân gian Hàng Trống "Ngũ hổ" 


Tranh Kim Hoàng 


Tranh Kim Hoàng là sản phẩm tranh ra đời từ sự hợp nhất 2 làng Kim Bảng và Hoàng Bảng vào năm Chính Hòa thứ 22 (1701). Dân làng thường làm tranh từ Rằm tháng 11 âm lịch cho tới Tết Nguyên Đán. Điểm khác biệt của dòng tranh này là nó không sử dụng giấy in quyét điệp như tranh Đông Hồ mà cũng không sử dụng giấy xuyên như tranh Hàng Trống mà in trên giấy Đỏ, giấy Hồng Điều hay giấy Tàu vàng. 



Tranh Kim Hoàng in trên giấy đỏ


Tranh làng Sình 


Nghề làm tranh tại làng Sình (nằm ven bờ sông Hương, Huế) đã ra đời không biết từ bao giờ, và tranh của làng đa phần phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng. Tranh làng Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Với khoảng hơn 50 đề tài tranh phản ảnh tín ngưỡng cổ sơ, người dân thờ tranh cầu mong người yên, vật thịnh ... Tranh có nhiều cỡ khác nhau, ứng với nó là kiểu in vẽ cũng khác nhau. In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Màu tô của tranh làng Sình tuy không được tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Điểm nổi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo nhất của nó lại là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.


Tranh làng Sình mang nét chất phát, tự nhiên 


Cách tiếp cận


Tranh dân gian đa dạng và mang dấu ấn nền văn hoá là vậy, nhưng không phải ai cũng hiểu và thể hiện tình yêu với các loại tranh truyền thống. Để trẻ nhỏ có cơ hội tìm hiểu và có những trải nghiệm riêng mình với tranh dân gian, các gia đình có thể cho bé đến không gian văn hoá Hồ Văn - Văn Miếu để tham gia vẽ tranh dân gian. Bên cạnh đó, Hồ Văn còn có nhiều hoạt động hấp dẫn như vẽ mẹt, vẽ nón, nặn gốm, tô mặt nạ giấy bồi,... cho bé thoả sức tìm hiểu và sáng tạo.


Chi tiết xem tại đây 




(Tổng hợp)