Hồ Văn Văn Miếu

Điểm vui chơi cuối tuần và giáo dục di sản lý tưởng

Hồ văn văn miếu

Đến ngay với Hồ Văn Văn Miếu

Địa điểm du lịch giáo dục

Địa điểm du lịch lý tưởng cho các bé vừa chơi vừa học

Địa điểm du lịch làng trang phố

Khu du kịch tái hiện khung cảnh làng quê xưa nhưng ngôi làng trong phố

Đây là trang web chia sẻ hữu ích về du lịch

Hãy đến ngay với Hồ Văn Văn Miếu để khám phá những nét đăng biệt của văn hóa xưa cũ

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

GIẾNG QUÊ - LINH HỒN LÀNG VIỆT

Từ xưa xa, làng quê Việt Nam ta có biết bao hình ảnh cuộc sống tưởng như rất thường tình, nhưng lại chứa đựng những giá trị tinh thần rất sâu, như một biểu tượng về hồn quê. Và giếng làng là một phần như thế.

Gắn liền với cuộc sống làng quê xưa

Tự lâu đời, với hầu hết người dân quê, giếng nước là nguồn sống. Ngoài những giếng nước của riêng mỗi nhà, làng quê nào cũng có ít nhất một giếng chung cho cả làng. Và giếng làng là nơi các thôn nữ ra gánh nước. Các cô gái quê thường coi giếng là cái gương soi, để mỗi lần ra lấy nước là một lần soi mình làm duyên. Do vậy mà trai làng hay để mắt đến giếng làng. Và giếng làng thường là nơi trai, gái hẹn hò. Đời người, thuở nhỏ biết đến cái giếng, dần lớn lên mới biết đến sông, đến biển, và tới những chân trời…

Nguồn sống của người Việt xưa gói gọn qua hình ảnh chiếc giếng quê (ảnh st)
Nguồn sống của người Việt xưa gói gọn qua hình ảnh chiếc giếng quê (ảnh st)
Vài chục năm trở lại đây, các làng quê Việt Nam được ngói hóa, bê-tông hóa, nhiều nhà xây bể lớn để chứa nước mưa ăn cả năm, nhiều làng cổ ven đô còn có nước máy dẫn đến tận nhà, người ta ít dùng nước giếng. Nhưng giếng làng đâu dễ gì quên lãng được?!...

Chiếc giếng của mỗi làng mang một nét đặc trưng riêng biệt

Thực tế ở nhiều nơi, có nhiều giếng làng bị lấp đi để lấy mặt bằng xây dựng. Tuy nhiên, không ít nơi, giếng làng vẫn đang tham gia vào đời sống thường nhật của người dân, vẫn là nguồn nước sạch của nhiều nhà. Hơn nữa, ở nhiều vùng quê, trước đình làng, bên chùa làng vẫn giữ nguyên những giếng xây gạch Bát Tràng, được coi là nguồn tụ thủy tụ phúc của cả làng.

Giếng đình làng Sinh Quả (Thanh Oai, Hà Nội) (ảnh st)
Giếng đình làng Sinh Quả (Thanh Oai, Hà Nội) (ảnh st)
Dẫu không còn là nguồn cấp nước dùng cho dân chúng, nhưng nhiều làng quê vẫn giữ gìn nước giếng sạch sẽ. Đó là một việc làm của cộng đồng, dường như, để giữ trong sạch một mảnh hồn quê. Như trường hợp giếng Đình của làng Đại Phùng, huyện Đan Phượng (Hà Nội), dưới thì xây bằng gạch đá ong, thành giếng là cả khối đá ong khoét rỗng, trông thật mộc mạc chân quê.

Ngày này, Giếng làng vẫn đang tham gia vào đời sống thường nhật của người dân, vẫn là nguồn nước sạch của nhiều nhà (ảnh st)
Ngày này, Giếng làng vẫn đang tham gia vào đời sống thường nhật của người dân, vẫn là nguồn nước sạch của nhiều nhà (ảnh st)
Còn giếng chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, ngay trước nhà Tổ của chùa, thành giếng là đá xanh nguyên khối khoét rỗng lòng, tỏa chân ra mặt sân giếng, trông như một bông sen nở với những cánh hoa chạm khắc khá nhuần nhị. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có phỏng tạo một khẩu giếng chùa Bút Tháp, bày trong vườn bảo tàng, là để cho người tứ xứ, năm châu tới thăm, sẽ biết đến một nét quê Việt Nam ta…
Tại Thượng điện của Linh Tiên quán, ở làng Cao Xá, huyện Hoài Đức (Hà Nội), có một giếng nước đặc biệt mà dân chúng quanh vùng coi là một huyệt đan sa rất linh thiêng, nước quanh năm trong, ngọt và múc mấy cũng không cạn. Người ta vẫn lấy nước giếng này cúng tế thần tiên. Còn ở Kẻ Ngườm, xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín (Hà Nội), có một giếng nước lớn, bờ xây tròn, gần bên sông Nhuệ, nhưng về mùa nước lũ tràn đầy hay vào mùa hanh kiệt, mực nước trong giếng vẫn ổn định, và nước rất thơm mát. Đó là giếng Khoái, niềm tự hào của dân chúng ở đây, lấy nước pha trà hay ủ chè xanh thì hương thơm, vị thấm lạ thường. Đặc biệt, chè tươi nước giếng Khoái không chỉ thơm ngấm, mà còn say, cái say vương vấn cho cảm giác lạ lùng, êm ái. Có phải vì vậy mà người đời gọi giếng này là giếng Khoái chăng? Ở chùa Dâu (Bắc Ninh), còn giữ được một giếng nước không có thành cao.

Mọi hoạt động của người dân nông thông hầu hết xoay quanh chiếc giếng (ảnh st)
Mọi hoạt động của người dân nông thông hầu hết xoay quanh chiếc giếng (ảnh st)

Hình ảnh giếng quê thay đổi theo từng thời kỳ

Trong tổng thể cấu trúc các công trình văn hoá tâm linh ở các làng quê, nếu cây đa có thần, chùa có Phật, thì giếng nước có thủy thần, có thần mẹ nước và nước giếng tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn, sức sống của dân làng.
Trong không gian kiến trúc làng, những chiếc giếng làng còn mang đậm nét của nền văn minh lúa nước. Qua từng thời kỳ, những chiếc giếng làng mang hình dạng và ý nghĩa khác nhau: Có chiếc giếng hình vuông -  tượng trưng cho đất mẹ, mà nguồn nước được ví như nguồn sữa nuôi dưỡng con người lớn khôn; Có chiếc giếng hình tròn - tượng trưng cho mặt trời; có chiếc giếng hình bầu dục - như tấm gương luôn soi sáng, phản chiếu hình ảnh cuộc sống thanh bình của làng quê. Ngoài ra, Giếng nước cũng là nơi sinh hoạt, tụ họp của dân làng mỗi buổi chiều tà: Nước giếng để ăn, uống, sinh hoạt tắm giặt hằng ngày.

Giếng quê mang nhiều ý nghĩa độc đáo

Ý nghĩa về mặt tinh thần

Dường như, ở bất cứ vùng quê văn hiến nào cũng có những giếng nước, có thể thấy trong đó cả phần tâm linh cùng phần đời thường của những người muôn năm cũ. Tại chùa Phổ Minh (Nam Định), ngoài hai ngôi giếng trước chùa được coi là đôi mắt rồng, phía sau chùa còn có một giếng cổ mà thành giếng được xếp bằng những chiếc vại sành bên trong đựng đầy vôi. Nhờ vậy mà nước vô cùng trong trẻo và rất sạch. Còn bên cạnh điện Thánh ở chùa Keo (Thái Bình), có ngôi giếng cổ, người xưa xếp những cối đá thủng làm thành giếng. Đá làm nước trong sạch, và đá cũng làm cho giếng trường tồn...
Trong tâm thức người Việt ta, Dân tộc, Đất nước là vô cùng thiêng liêng. Vậy nên, ở nhiều làng quê nước Việt Nam có những giếng thiêng. Như trên vạt núi đá Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (Bắc Ninh), có một chỗ gọi là Giếng Việt. Tương truyền, Trần Thế Pháp (thời Trần) đã viết Truyện giếng Việt, trong sách Lĩnh Nam chích quái, là nói về chỗ này. Những khe đá nơi đây nứt tỏa ra chung quanh, từ trên cao nhìn xuống, thấy như hình cửa mình bà mẹ xứ sở. Với hình tượng đó mà người xưa luôn coi giếng nước là âm tính chăng? Và từ cảm nhận sâu xa, lớn lao đó, nên trong khu di tích Đền Hùng mới có cả đền Giếng chăng? Đền Giếng là nơi thờ công chúa Ngọc Hoa, sau là vợ thánh Sơn Tinh, và công chúa Tiên Dung, sau kết duyên cùng thánh Chử Đồng Tử. Hiện vẫn còn một khẩu giếng, tương truyền là nơi hai nàng công chúa con Vua Hùng thứ mười tám vẫn dùng làm gương soi…

Trong tâm thức người Việt ta, Giếng quê là vật vô cùng thiêng liêng (ảnh st)
Trong tâm thức người Việt ta, Giếng quê là vật vô cùng thiêng liêng (ảnh st)

Hình ảnh chiếc giếng in hằn vào tiềm thức người dân Việt

Đến nay, ở các làng quê không còn nhiều giếng làng, và giếng làng cũng không còn nhiều giá trị sử dụng nữa. Nhưng trong tâm thức người Việt ta, giếng làng đã là một giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc. Nó như gương soi ngày xưa gửi lại cho hậu thế, và lại như những giấc mộng trong trẻo, lung linh. Dẫu ít gặp trong thực đời, nhưng vẫn nằm đâu đó nơi tiềm thức thẳm sâu. Đôi khi nhắm mắt lại thì thấy nó là một khung trời ấu thơ, đôi khi nó là một giấc mơ tràn trề tươi mát…
Dẫu không còn là nguồn cấp nước dùng cho dân chúng, nhưng nhiều làng quê vẫn giữ gìn nước giếng sạch sẽ. Đó là một việc làm của cộng đồng, dường như, để giữ trong sạch một mảnh hồn quê. Bởi, từ trong tâm thức mỗi người dân Việt, giếng làng đã là một giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc. Nó như gương soi ngày xưa gửi lại cho hậu thế, và lại như những giấc mộng trong trẻo, lung linh.

Trải qua hàng nghìn năm, hình ảnh chiếc giếng vẫn còn trường tồn, gắn liền với làng quê theo dòng chảy của thời gian (ảnh st)
Trải qua hàng nghìn năm, hình ảnh chiếc giếng vẫn còn trường tồn, gắn liền với làng quê theo dòng chảy của thời gian (ảnh st)
Người Việt ta thấu hiểu giá trị tinh thần của giếng làng, nên đã tạo dựng giếng thì cũng luôn giữ gìn giếng như một việc trọng của quê nhà. Là nguồn tụ thủy tụ phúc của làng, nên giếng thường được tạo dựng bên những ngôi chùa cổ linh thiêng.

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN - VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

NÓN QUAI THAO - DI SẢN VĂN HOÁ VIỆT

Nói đến trang phục đặc sắc của dân tộc Việt Nam thời hiện đại, nhất là của phụ nữ, của “phái đẹp”, chúng ta và cả bạn bè quốc tế đều nhắc đến chiếc áo dài truyền thống. Thế nhưng trong suốt lịch sử mấy trăm năm về trước, trang phục tiêu biểu đã làm nên dáng đẹp của các “quý bà, quý cô” nước Việt lại chính là những tấm áo mớ ba, mớ bảy với chiếc nón thúng quai thao.

Sơ lược về nón quai thao

Nón quai thao là một loại nón đắt tiền, đẹp và sang trọng, thường các bà, các cô chỉ đội hoặc mang theo trong những dịp lễ, tết, hội hè, hoặc những lúc có công việc nhàn nhã, vui vẻ nhưng cần phải nghiêm chỉnh, lịch sự. Nón thúng quai thao từ lâu đã đi vào ca dao, dân ca, đi vào tiềm thức của người Việt với những câu ca đằm thắm, trữ tình:
“Ai làm chiếc nón quai thao
Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi“

Nón quai thao thường được sử dụng trong các dịp lễ hội quan trọng (ảnh st)
Nón quai thao thường được sử dụng trong các dịp lễ hội quan trọng (ảnh st)

Nguồn gốc nón quai thao

Cho đến nay, thật khó có thể biết được chiếc nón thúng quai thao đầu tiên ra đời từ khi nào? Và ai là người sáng tạo ra nó? Tương truyền nón xuất hiện ở Hải Dương vào đời Trần (thế kỷ XVIII) sáng tạo cho cung nữ gọi là nón thượng. Qua đời Lê, nón được thêm quai thao. Dân gian tin là có viên quan trong triều, ông Vũ Đức Úy, trong khi được cử làm phó sứ sang Trung Quốc, bỏ công học nghề thủ công, dệt thao rồi về nước truyền nghề: nghề dệt, nghề dùng sợi tơ làm dây đàn, quai thao cho nón.
Chỉ biết một điều chắc chắn là: Từ khi chiếc nón quai thao ra đời, nó đã dần dần đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người Việt và lập tức trở thành một trong những vật trang sức vừa có ý nghĩa thực dụng cho người phụ nữ Việt Nam, vừa góp phần tôn vinh vẻ đẹp của quý bà, quý cô trong cuộc sống…

Tương truyền ông tổ của Nón quai thao là Vũ Đức Úy (ảnh st)
Tương truyền ông tổ của Nón quai thao là Vũ Đức Úy (ảnh st)

Cấu tạo của nón

Chiếc nón quai thao thường có kích thước khá lớn, đường kính mặt nón ước chừng 70-80cm, che rợp cả khuôn mặt người đội, tạo nên một không gian rộng, thoáng và mát. Mặt phẳng trên nón lợp lá gồi hoặc lá cọ, sát phía dưới là thành nón cao độ 10-12cm. Giữa nón gắn một vành tròn như nắp tráp vừa đầu đội cao khoảng 8cm, gọi là cái “khua”. Khua cần phải cứng để chịu đựng được nón nặng.  Khua nón làm công phu lắm: Nó là những sợi tre nhỏ chuốt bóng khâu lại với nhau bằng chỉ tơ nhiều màu sắc. Những sợi chỉ đan chéo nhau thành hình hoa lá, chim muông thật đẹp mắt.

Nón quai thao được làm từ những nguyên liệu đơn giản, gắn liền với quê hương Việt Nam (ảnh st)
Nón quai thao được làm từ những nguyên liệu đơn giản, gắn liền với quê hương Việt Nam (ảnh st)
Hơn nữa, quai thao là bộ phận không thể thiếu của loại nón này, nó chẳng những làm cho nón cân bằng, vững chãi, mà còn làm cho người phụ nữ thêm duyên dáng, thướt tha… Quai thao làm bằng tơ, nhưng là loại tơ đặc biệt, vừa rẻ, vừa bền lại vừa có giá trị cao. Thông thường các cô gái trẻ thì thích dùng quai thao màu trắng ngà gốc tơ tằm, còn quai thao màu tím, màu đen thì được dùng cho phụ nữ đã lập gia đình. Quai thao gồm từ 2 đến 3 sợi bện lại với nhau (gọi là quai kép), thả võng đến thắt lưng. Khi đội đầu, người phụ nữ lấy tay giữ quai ở trước ngực, nón không bị đung đưa lại tiện điều chỉnh khi đội thẳng hay lúc cần nghiêng nghiêng che nắng… Hai đầu quai thao có chừng mươi mười hai túm tua nho nhỏ, dài chừng 20-25 cm rủ xuống trông mềm mại, vui mắt.

Quy trình làm nón đơn giản nhưng đòi hỏi kỹ thuật, tay nghề người thợ phải thật khéo léo, tỉ mỉ (ảnh st)
Quy trình làm nón đơn giản nhưng đòi hỏi kỹ thuật, tay nghề người thợ phải thật khéo léo, tỉ mỉ (ảnh st)
Muốn dây có màu thật trắng, chuội tơ được đem với nước tro rơm, sau đó với mỡ lợn, cơm xôi rồi ngâm một đêm thì thao sẽ có màu trắng phau. Muốn nhuộm vàng thì cho thêm phẩm để tơ dệt thêm trắng, vàng óng. Còn nếu muốn nhuộm đen thì phải dùng thuốc hoàn nguyên để không bị phai, thôi. Khâu cuối cùng là đính quai thao vào nón để khi mặc với áo tứ thân, áo mớ ba, mớ bảy, váy lĩnh đen bóng, lưng đeo xà tích, đầu đội nón quai thao có tua rủ xuống bờ vai sẽ khiến cho các bà, các cô, các mợ càng thêm vẻ mặn mà, đài các…

Nét đẹp văn hoá nón quai thao

Chiếc nón lá từ bao đời nay đã gần gũi, quen thuộc đối với người phụ nữ Việt Nam, chẳng hề phân biệt giàu - nghèo, hèn - sang, từ người nông dân đến các thiếu nữ nơi đô thị. Trải qua thời gian và đổi thay của đời sống, nhưng những chiếc nón vẫn theo các bà, các mẹ, các chị hằng ngày không chỉ che mưa, che nắng mà còn tạo nên cái "duyên" rất đặc sắc, trở thành nét văn hóa của dân tộc Việt, làm ngỡ ngàng bao du khách nước ngoài.

Chiếc nón lá từ bao đời nay đã gần gũi, quen thuộc đối với người phụ nữ Việt Nam, chẳng hề phân biệt giàu - nghèo, hèn - sang (ảnh st)
Chiếc nón lá từ bao đời nay đã gần gũi, quen thuộc đối với người phụ nữ Việt Nam, chẳng hề phân biệt giàu - nghèo, hèn - sang (ảnh st)
Cùng với nét đẹp truyền thống của nón quai thao là sự khéo léo tài tình của người nghệ nhân hết mình vì sự lưu giữ nét đẹp truyền thống của quê hương vẫn đang ngày ngày cần mẫn, tỉ mỉ làm nên những chiếc nón mang đậm nét đẹp hồn quê.

Có thể nói, chiếc nón tôn vinh lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt (ảnh st)
Có thể nói, chiếc nón tôn vinh lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt (ảnh st)

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN - VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!

LỢN TRONG DI SẢN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Nhắc đến di sản văn hoá Việt Nam, người ta nhớ ngay đến rất nhiều hình ảnh gắn liền với quê hương Việt: Con trâu, cây tre, hoa sen, đặc biệt là hình tượng con lợn. Con lợn hay con heo là loài vật đã gắn bó lâu đời với con người và xung quanh đó là nhiều câu chuyện trong văn hóa đại chúng về con lợn... Lợn biểu trưng cho sự phồn thực và sự nhàn nhã sung túc.

Hình tượng con lợn gắn liền với làng quê xưa

Lợn là một trong những gia súc gần gũi nhất với nhà nông. Trong kho tàng di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, hình tượng của lợn thể hiện đậm nét trong ca dao, tục ngữ. Đám cưới là sự kiện quan trọng nhất của đời người, qua câu ca dao: “Em về thưa với mẹ cha/ Bắt heo đi cưới, bắt gà đi cheo”. Có lẽ trong đám cưới làng quê ngày xưa, không thể thiếu được heo (lợn), để làm cỗ mời họ hàng, làng xóm. Ngay cả đám giỗ cũng vậy, dẫu nghèo đến mấy, cũng phải có mâm cỗ “cúng đầu heo”. Con lợn cứ “tự nhiên" gắn với đoạn trường của vòng đời là vậy.
Hình ảnh lợn gắn bó với nhà nông từ bao đời nay (ảnh st)
Hình ảnh lợn gắn bó với nhà nông từ bao đời nay (ảnh st)
Lợn trong thế giới ẩm thực của người Việt là những món ngon như chả, giò, nem, bóng bì, các loại nhân bánh chưng, bánh cuốn, bánh giò,... Các món thịt lợn cũng xuất hiện trong các câu tục ngữ “Nhất thủ, nhì vĩ”, hay “Bầu dục không đến bàn thứ tám, cám không đến mõm lợn xề”, thể hiện đẳng cấp trong làng xã xưa, ý là chỉ có chức sắc mới được ăn bầu dục, chữ mõ làng ở bán thứ tám thì làm sao được ăn.

Lợn được con người tôn vinh

Đôi khi lợn lại được người đời tôn vinh, được gọi là “Ông Lợn hay Ông Ỉn”. Đó là trong bối cảnh rước lợn ra đình để cúng Thành Hoàng ở làng La Phù, huyện Hoài Đức, Hà Nội vào dịp 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Các “Ông Lợn” được tuyển chọn khắt khe từ 10 xóm trong làng. Lợn được nuôi và chăm sóc chu đáo. Những ngày gần tới lễ hội, lại nấu cháo hoa cho các Ông ăn, mắc màn cho các Ông ngủ. Người được chọn nuôi lợn phải có đức, có tài, phải có cả con trai và con gái. Sau khi mổ thịt, lợn được trang trí đẹp bằng giấy màu, hoa tươi và đặc biệt làm một tấm “áo choàng” cho lợn bằng một lớp mỡ chài của chính con lợn đó rồi rước kiệu ra đình. Theo truyền thuyết, lễ hội rước lợn này có từ thời vua Hùng thứ sáu. Thông qua lễ hội, người dân mong cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hoà. Lễ hội này phản ánh nghi thức hiến sinh có từ thời văn hoá Đông Sơn.

Con người tôn thờ, gọi lợn là Ông Ỉn
Con người tôn thờ, gọi lợn là Ông Ỉn
Hình tượng con lợn còn in dấu trong tâm thức người Việt. Theo quan niệm xưa, vòng luân hồi của vũ trụ theo hệ lịch phaps ma thập nhị chi gồm 12 con vật gồm Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn). Trong đó lợn được tượng trưng cho một năm. Hình ảnh của 12 con vật, trong đó có lợn, đã được khắc hoạ trên trống đồng Heger IV, được vẽ trong tranh dân gian làng Sinh (Huế) và được nhà Nguyễn cho tạc tượng trong bộ tượng 12 con giáp bằng đá ngọc.

Hình ảnh lợn được điêu khắc nhiều trên các sản phẩm tượng đá
Hình ảnh lợn được điêu khắc nhiều trên các sản phẩm tượng đá

Lợn thể hiện qua đa dạng khía cạnh

Hình tượng lợn còn được thể hiện trong điêu khắc đình và chùa trong thời Lê Trung Hưng. Đó là bức chạm gỗ cảnh người mẹ vừa cho con bú, vừa cho lợn ăn ở đình Phất Lộc (Thái Bình). Chú lợn được tả thực, có cả mắt, mõm, tai vểnh, bụng xệ. Cùng đề tài này, người ta lại bắt gặp trên mảng chạm gỗ ở chùa Cự Trữ (Nam Định) hay ở trên bệ thờ ở đình Tam Đà (Ba Vì, Hà Nội) có cảnh chú lợn đang ăn cây khoai môn. Rõ ràng hình tượng chú lợn đã có mặt trong các đình, chùa như một yếu tố dân dã đã bắt đầu lấn lướt yếu tố cung đình. Con lợn đã có mặt ở những nơi vốn chỉ dành cho con rồng, biểu tượng của vương quyền.

Bức chạm gỗ cảnh người mẹ vừa cho con bú, vừa cho lợn ăn ở đình Phất Lộc (Thái Bình) (ảnh st)
Bức chạm gỗ cảnh người mẹ vừa cho con bú, vừa cho lợn ăn ở đình Phất Lộc (Thái Bình) (ảnh st)
Lợn có mặt nhiều hơn trong các dòng tranh dân gian. Thậm chí, nhắc đến tranh Đông Hồ là người ta lại nhớ đến một dòng tranh lợn gà như câu thơ của thi sĩ Hoàng Cầm: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Hình tượng con lợn trong tranh dân gian Đông Hồ biểu tượng cho sự sung mãn, hạnh phúc. Đối với nhà nông, không gì bằng cuộc sống no đủ và bình yên, quanh ngôi nhà tranh vách đất, con lợn kiếm ăn quanh quẩn trong vườn (như tranh “Lợn ăn lá ráy”). Con lợn còn thể hiện sự phồn thực, con đàn cháu đống (như tranh “Đàn lợn”). Tranh vũ con lợn khá siêu thực, thân lợn được tả theo góc nhìn ngang, nhưng mõm lợn lại theo góc nhìn thẳng. Sự phối màu rực rỡ từ những góc chế từ nguyên liệu dân gian dễ kiếm là đặc trưng độc đáo của dòng tranh này. Đôi khi, lợn lại được in màu đen đơn giả để khi cúng lễ đốt đi với ý nghĩa tâm linh là gửi xuống âm phủ cho người thân khuất núi.

Trong hầu hết tranh dân gian xưa đều có hình ảnh con lợn (ảnh st)
Trong hầu hết tranh dân gian xưa đều có hình ảnh con lợn (ảnh st)
Lợn còn có mặt trên các tượng tròn. Có khối tượng lợn bằng cả đồng có cả mắt, tai, mõm, bốn chân và đuôi cong, trên mình được trang trí hoa văn Đông Sơn hình răng cưa, vòng tròn đồng tâm. Trên lưng được đặt một chiếc trống đồng đặt ngửa có quai, hoa văn vòng tròn đồng tâm. Một dòng tượng lợn phổ biến nữa, được chế tạo từ đất nung, xẻ rãnh để đút tiền tiết kiệm của trẻ nhỏ khi được người lớn mừng tuổi và có một loại đồ chơi dân gian gọi là “tò he” có tạo hình lợn, được nặn từ bột nếp.

Người ta còn dùng hình ảnh con heo đất như là một biểu tượng về tài chính (ảnh st)
Người ta còn dùng hình ảnh con heo đất như là một biểu tượng về tài chính (ảnh st)
Lợn là loài động vật mà người Việt đã biết đến trừ cách đây hàng vạn năm. Trong hang động đã tìm thấy xương lợn rừng. Trong mái đá làng Vành, hang làng Nèo, hang Đắng, họ đã lấy răng nanh lợn rừng và các răng thú khác để dùi xuyên lỗ làm bùa thiêng đeo cổ. Cách đây khoảng 6 ngàn năm, người cổ ở Mai Pha đã biết chăn nuôi lợn. Từ bấy giờ, con lợn luôn luôn đồng hành và có mặt trong kho tàng di sản văn hoá của người Việt.

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN - VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

NÓN LÁ LÀNG CHUÔNG - PHẢNG PHẤT HỒN QUÊ VIỆT NAM

Từ lâu nay hình ảnh người phụ nữ thướt tha trong tà áo dài truyền thống với chiếc nón lá đã in đậm trong tâm thức người Việt. Khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đều có những vùng làm nón lá khá nổi tiếng và mỗi loại nón đều mang những nét đẹp, sắc thái riêng. Làng Chuông (huyện Thanh Oai, Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng xa gần bởi nghề làm nón với những chiếc nón lá vừa đẹp vừa bền.

Làng Chuông ở đâu?

Làng Chuông thuộc huyện Thanh Oai (tỉnh Hà Tây cũ), nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía tây, nổi tiếng về làng nghề làm nón lá từ hàng trăm năm nay. Làng có trên 2.000 hộ dân, đất đai vốn dĩ khô cằn nên từ lâu dân làng đã làm thêm nghề phụ. Làm nón lá là một trong những nghề truyền thống đem lại cuộc sống khấm khá cho dân làng.

Làng Chuông thuộc huyện Thanh Oai (tỉnh Hà Tây cũ), nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía tâm (ảnh st)
Làng Chuông thuộc huyện Thanh Oai (tỉnh Hà Tây cũ), nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía tâm (ảnh st)

Làng nghề truyền thống từ lâu đời

Không quá nhộn nhịp như các làng nghề khác, làng Chuông vẫn dễ nhận thấy bởi không gian cổ truyền thống với những mảnh sân phơi đầy nón trắng hay nguyên liệu làm nón. Chợ làng Chuông họp mỗi tháng 6 phiên vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24, 30 âm lịch và chỉ bày bán một thứ hàng duy nhất là nón.
Nón được xếp thành từng chồng dài, trắng lóa. Màu trắng của nón lấp lóa khắp nơi xen lẫn sắc hồng trên má các cô thôn nữ, cùng những tiếng cười giòn tan làm cho không khí trong chợ càng thêm đậm đà bản sắc quê hương. Phiên chợ làng Chuông chỉ bán sản phẩm truyền thống của làng. Đây cũng là một trong những nét độc đáo của làng Chuông còn được lưu giữ đến nay.

Buổi sáng nhộn nhịp với các gian hàng nón mộc mạc, bình dị (ảnh st)
Buổi sáng nhộn nhịp với các gian hàng nón mộc mạc, bình dị (ảnh st)

Nguồn gốc nón lá làng Chuông

Chiếc nón lá bao đời nay vẫn theo chân người phụ nữ Việt Nam trên mọi nẻo đường, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng ruộng lam lũ đến công trường nắng gió. Nhưng nguồn gốc xuất xứ của nón lá làng Chuông đến nay vẫn chưa thể xác định được, mới chỉ dừng lại ở sự truyền miệng, nghe tổ tiên kể lại chiếc nón ra đời và gắn bó với mảnh đất Chuông giàu văn hóa tự thuở nào.
Xa xưa nón làng Chuông là cống vật tiến hoàng hậu, công chúa bởi vẻ đẹp rất riêng được làm từ những bàn tay tài hoa khéo léo của các nghệ nhân lành nghề. Đặt chân tới Làng Chuông mới thấy hết được những màu sắc rực rỡ của một làng nghề truyền thống. Màu trắng của nón lấp lóa khắp nơi xen lẫn sắc hồng trên má các cô thôn nữ cùng những tiếng cười giòn tan làm cho không khí trong chợ càng thêm đậm đà bản sắc quê hương.
Ngày nay, nón làng Chuông có mặt khắp nơi, cả trên thị trường trong nước lần ngoài nước. Trung bình mỗi ngày, dân làng làm được khoảng 7.000 chiếc nón đưa đi khắp nơi, sang cả Trung Ọuốc, Nhật Bản, các nước châu Âu.

Chiếc nón lá gắn bó với người phụ nữ từ xưa tới nay, trở thành một vật bất di bất dịch (ảnh st)
Chiếc nón lá gắn bó với người phụ nữ từ xưa tới nay, trở thành một vật bất di bất dịch (ảnh st)

Công đoạn làm ra một chiếc nón hoàn chỉnh

Theo các nghệ nhân trong làng, để làm nên một chiếc nón, công đoạn khó nhất là tìm mua nguyên liệu, xếp lá dàn đều và khâu nón khéo léo để không rách lá.
Đầu tiên là chọn lá: Lá lụi được đem về vò trong cát rồi phơi nắng cho đến khi màu xanh của lá chuyển sang màu trắng bạc. Sau đó lá được lót dưới nắm giẻ, dùng lưỡi cày miết nhanh sao cho lá phẳng mà không giòn không rách. Vòng nón làm bằng cật nứa vót nhỏ và đều, khi nối bắt buộc phải tròn và không chấp, không gợn. Khác với nón thường có 20 lớp vòng, nón làng Chuông có 16 lớp vòng nhằm giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn mềm mại.

Các nguyên liệu làm nón đều xuất phát từ những thứ đã quá quen thuộc với quê hương Việt Nam (ảnh st)
Các nguyên liệu làm nón đều xuất phát từ những thứ đã quá quen thuộc với quê hương Việt Nam (ảnh st)
Tiếp theo người thợ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá nữa rồi khâu. Khâu là một công đoạn rất khó bởi không khéo là sẽ dẫn tới bị rách lá. Bàn tay người thợ cầm kim đưa nhanh thoăn thoắt mềm mại những mũi khâu thẳng đều từ vòng trong ra vòng ngoài. Khi chiếc nón được khâu xong, người thợ hơ bằng hơi diêm làm cho màu nón trở nên trắng muốt và giúp nón không mốc. Đặc biệt, những chiếc nón cầu kì hơn sẽ được trang trí vào lòng nón những họa tiết hoa lá bằng giấy sắc màu hoặc chỉ khâu nhiều vòng giăng mắc ở hai điểm đối diện để buộc quai nón.

Công đoạn tạo ra một chiếc nón hoàn chỉnh không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo (ảnh st)
Công đoạn tạo ra một chiếc nón hoàn chỉnh không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo (ảnh st)

Phân loại nón tại làng Chuông

Ngoài những kiểu mẫu truyền thống, đã có thêm nhiều kiểu dáng khác như quai thao, nón chóp dứa, nón tơi, nón Lâm Xung, nón Thái-lan, nón Hàn Quốc... Nón làng Chuông cũng vinh dự được tham gia vào nhiều sự kiện lớn của đất nước như APEC, SEA Games và các hội chợ quốc tế khác.

Để phù hợp hơn với thời đại, nón lá cũng có đa chủng loại nhằm phục vụ được thị hiếu người sử dụng (ảnh st)
Để phù hợp hơn với thời đại, nón lá cũng có đa chủng loại nhằm phục vụ được thị hiếu người sử dụng (ảnh st)

Nét đẹp nhân văn nón lá làng Chuông

Ngày nay, các bậc cao niên ở làng Chuông vẫn luôn chú tâm truyền dạy nghề làm nón cho con cháu. Du khách có thể bắt gặp ở chợ nón hình ảnh những cô bé vừa phụ giúp mẹ bán nón vừa học cách khâu nón. Mỗi chiếc nón đong đầy tình cảm, đam mê của nhiều thế hệ dày công gìn giữ nghề của cha ông để lại.

Chỉ là một chiếc nón rất "thường" nhưng trong đó chứa rất nhiều ý nghĩa với con người đất Việt, đặc biệt là người phụ nữ (ảnh st)
Chỉ là một chiếc nón rất "thường" nhưng trong đó chứa rất nhiều ý nghĩa với con người đất Việt, đặc biệt là người phụ nữ (ảnh st)
Chiếc nón lá từ bao đời nay đã gần gũi, quen thuộc đối với người phụ nữ Việt Nam, chẳng hề phân biệt giàu - nghèo, hèn - sang, từ người nông dân đến các thiếu nữ nơi đô thị. Trải qua thời gian và đổi thay của đời sống, nhưng những chiếc nón vẫn theo các bà, các mẹ, các chị hằng ngày không chỉ che mưa, che nắng mà còn tạo nên cái "duyên" rất đặc sắc, trở thành nét văn hóa của dân tộc Việt, làm ngỡ ngàng bao du khách nước ngoài..

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN - VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!





Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

ĐÈN LỒNG - NÉT ĐẸP VĂN HOÁ PHỐ CỔ HỘI AN

Ai đã từng một lần đến phố cổ Hội An ắt hẳn sẽ không quên được khung cảnh bình yên, hoài cổ nơi đây. Dạo bước trên những con phố cổ, chìm đắm trong hàng ngàn thứ màu sắc đẹp đẽ, từ mái ngói rêu phong đến gánh hàng rong, khăn màu, vòng tay, túi lụa,không khỏi ngỡ ngàng trước hình ảnh những chiếc đèn lồng  được giăng kín khắp ngả đường, từ các di tích văn hóa lịch sử đến các nhà hàng, khách sạn, các điểm vui chơi giải trí, ở mỗi nhà dân đến các quán cóc ven đường.

Nguồn gốc ra đời

Đèn lồng Hội An xuất hiện vào khoảng thế kỷ 16 tại phố Hội (Quảng Nam) và tồn tại hơn 400 năm như một trong những sản phẩm nghệ thuật thủ công truyền thống lâu đời tại Việt Nam, lưu giữ trong mình một nét hoài cổ, tinh tế mà huyền diệu trong mắt người dân địa phương và cả bạn bè Thế Giới. Đến ngày 1/12/1999, Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và đèn lồng trở thành một nét đẹp đặc trưng món của Hội An, văn hóa của phố cổ nói riêng và đại diện cho nét đẹp văn hoá Việt nói chung.
Ngày 1/12/1999, Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và đèn lồng trở thành một nét đẹp đặc trưng món của Hội An (ảnh st)
Ngày 1/12/1999, Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và đèn lồng trở thành một nét đẹp đặc trưng món của Hội An (ảnh st)
Tương truyền rằng: Hội An xưa có ông tổ làm đèn lồng tên là Xã Đường, hồi đó được gọi là thợ mã chuyên làm đầu lân lồng đèn cho những đêm hội hay các cuộc thi đấu xảo, thi làm đèn kéo quân. Những ngày tết, lễ, hội hè, phú quý lắm người dân phố Hội An mới có chiếc đèn lồng to viết chữ Hán hoặc vẽ tranh thuỷ mặc treo trước nhà.

Hội An bắt đầu "lên đèn" lúc hoàng hôn buông xuống (ảnh st)
Hội An bắt đầu "lên đèn" lúc hoàng hôn buông xuống (ảnh st)
Nhưng theo người dân địa phương, người đầu tiên nghiên cứu và thực hiện biến chiếc đèn lồng truyền thống thành những sản phẩm độc đáo, mang đậm chất Việt là nghệ nhân tài hoa Huỳnh Văn Ba. Ông đã thổi hồn vào nó và biến nó thành một sản phẩm văn hóa đặc sắc của phố Hội nói riêng và Việt Nam nói chung, có khả năng xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Năm 2005, sản phẩm thủ công, đèn lồng Hội An đã được cục sở hữu trí tuệ Việt Nam bảo hộ nhãn hiệu độc quyền. Đây thật sự một nét đẹp văn hóa Việt đáng được tôn vinh.

Con phố trở nên lung linh huyền ảo hơn vào buổi tối (ảnh st)
Con phố trở nên lung linh huyền ảo hơn vào buổi tối (ảnh st)

Đèn lồng Hội An đa dạng các chủng loại

Đèn lồng Hội An đa dạng về kiểu dáng: từ loại đèn hình cầu hay hình dạng giống trái bí ngô cho đến đèn lồng kéo quân, phổ biến nhất là dạng tròn, tỏi, bánh ú và nhiều kiểu dáng đặc sắc với những ý nghĩa khác nhau. Ngoài ra,đèn lồng Hội An còn được tô điểm bởi nét vẽ, đường thêu những chi tiết đặc thù Đại Việt như cành đào, hoa mai, nhánh trúc, chữ thư pháp hay các di tích văn hóa lịch sử của Việt Nam. Chiếc đèn lồng thành phẩm được xếp gọn thành dạng ống nhỏ được theo tay du khách mang về quê hương trên mọi miền thế giới.

Sự đa dạng chủng loại khiên vẻ đẹp của đèn lồng Hội An thay đổi biến hoá (ảnh st)
Sự đa dạng chủng loại khiên vẻ đẹp của đèn lồng Hội An thay đổi biến hoá (ảnh st)

Nguyên liệu tạo ra đèn lồng Hội An

Hai nguyên liệu chính làm nên chiếc đèn lồng Việt đó chính là tre và vải lụa - những hình ảnh vô cùng quen thuộc trong đời sống người Việt. Sự mộc mạc của tre kết hợp với sự mềm mại, duyên dáng của lụa dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã làm nên những chiếc đèn lồng Việt đầy quyến rũ. Đèn lồng Hội An được sản xuất theo một quy trình thủ công khép kín. Tre dùng để tạo khung lồng đèn là loại tre già được ngâm kỹ với nước muối từ 10 – 15 ngày để chống mối mọt. Hệ thống vòng gỗ, chuôi đèn cũng được thiết kế tinh xảo sao cho kết hợp với nan tre có thể gấp lại được. Nan được gắn vào hai vòng gỗ rồi được níu bởi những dây dù, sau đó được sửa cho cân đối. Sau khi phần khung đèn, công đoạn tiếp theo là dán đèn vào khung đèn bung ra. Người Hội An thích dùng lụa Hà Đông để bọc đèn bởi vải lụa tơ tằm có độ dai khi căng trên khung đèn không bị rách và làm cho ánh sáng khung đèn thêm huyền ảo sống động. Vải được cắt thành nhiều mảnh tùy theo kích thước đèn rồi được dán trên khung bằng keo - công đoạn này đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của người thợ. Cuối cùng, để hoàn chỉnh một chiếc đèn lồng, các nghệ nhân còn tự mình bỏ công sức tiện gỗ quét sơn hay vecni, kết tua đèn, uốn dây thép làm chỗ treo đèn.

Hai nguyên liệu chính làm nên chiếc đèn lồng Việt đó chính là tre và vải lụa - những hình ảnh vô cùng quen thuộc trong đời sống người Việt (ảnh st)
Hai nguyên liệu chính làm nên chiếc đèn lồng Việt đó chính là tre và vải lụa - những hình ảnh vô cùng quen thuộc trong đời sống người Việt (ảnh st)

Đèn lồng Hội An - Tự hào bản sắc Việt Nam

Ngắm đèn lồng là một điều thú vị. Bởi vì, vào bất kể thời điểm nào, chúng đều có một vẻ đẹp riêng, đều mang lại cho người ta các cung bậc cảm xúc khác nhau. Buổi sáng, người ta đi dạo ngắm nhìn lồng đèn trên phố là để chiêm ngưỡng và có thể nhìn thấy rõ tay nghề tinh xảo, sức sáng tạo và tài hoa của những người thợ. Những chiếc đèn vẫn đẹp, vẫn nổi bật khi treo đơn lẻ hay treo thành giàn với đủ loại màu sắc, hình dáng và kích cỡ. Chúng như những bông hoa nở rộ,thi nhau khoe sắc dưới ánh mặt trời. Đêm đến, những bông hoa giờ đã trở thành những dãy màu sáng. Nó mang vẻ đẹp huyền bí, lung linh chiếu sáng trong đêm. Nó thắp sáng cảnh vật và làm cho không gian trở nên diệu kỳ, nên thơ. Rồi người ta lại chợt nhận ra rằng, những dãy sáng màu kia như là tập hợp của một rừng ánh sao lấp lánh và ánh sáng mà nó mang lại như thể không bao giờ tắt.

Điều khiến đèn lồng Hội An trở thành nét đẹp văn hóa Việt không chỉ ở cách làm thủ công mà còn ở hàm ý sâu xa. Đèn lồng Hội Ăn tượng trưng cho những biểu tượng, mong muốn của người dân Việt về cuộc sống sung túc, hạnh phúc, gia đình bình an, mạnh khỏe, vạn sự như ý, an khang. Chính vì vậy, việc sử dụng đèn lồng là cách người ta thể hiện niềm tin vào ý nghĩa tâm linh một cách chân thành và thiết tha nhất.

Ngoài vẻ đẹp đặc trưng, đèn lồng Hội An mang nhiều ý nghĩa vô cùng tuyệt vời (ảnh st)
Ngoài vẻ đẹp đặc trưng, đèn lồng Hội An mang nhiều ý nghĩa vô cùng tuyệt vời (ảnh st)

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN - VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

NHỮNG SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY HỘI CHỮ XUÂN 2019 KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

Chỉ còn vài ngày nữa Hội chữ xuân 2019 được tổ chức ở Hồ Văn - Văn Miếu sẽ khép lại. Thế nhưng, Chương trình vẫn thu hút đông đảo du khách tới vui chơi, thăm quan và trải nghiệm. Có thể nói, trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, Hội chữ xuân 2019 đem lại nhiều ý nghĩa nhân văn cho toàn thể những người tham dự, đặc biệt trên phương diện tinh thần. Tuy nhiên để hiểu được tầm quan trọng và những điều thú vị của hội, không phải ai cũng hiểu biết rõ ràng được. Do đó, hãy cùng Hovanvanmieu điểm qua vài nét đặc trưng của ngày Hội chữ xuân 2019 nhé!

Năm 2019 là cột mốc đánh dấu sự thành công của Hội chữ xuân


Hội chữ xuân 2019 nườm nượm du khách ra vào tham quan, vui chơi
Trải qua nửa thập kỷ, Hội chữ Xuân tại Văn Miếu đã dần trở thành một nét văn hóa đẹp, địa chỉ tin cậy của du khách và đặc biệt là người dân Thủ đô mỗi dịp Tết đến Xuân về. “Cho chữ – Xin chữ” đầu Xuân là văn hóa truyền thống của người dân cầu mong cho một năm mới như ý, đồng thời chính điều đó cũng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của Thư pháp Việt Nam.

Hội chữ xuân là đứa con tinh thần của Hồ Văn - Văn Miếu

Đúng với tên gọi của nó, chương trình được tổ chức nhằm đem lại cái nhìn mới dành cho toàn bộ người dân trên cả nước về quần thể Hồ Văn - Một trong những di tích tưởng chừng đã bị lãng quên nhằm hướng tới những nét văn đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc.

Tiết mục khai mạc diễn ra dưới sự cổ vũ nồng nhiệt từ phía khán giả tới thăm quan

Nhiều điểm mới được mở ra tại Hồ Văn trong dịp Hội chữ xuân 2019

Hoạt động sau mỗi năm lại có những biến đổi, quy mô lớn dần theo thời gian. Đồng nghĩa với việc đó, Ban tổ chức Hội chữ xuân năm nay khai thác triệt để thế mạnh của Hồ Văn để mở thêm nhiều điểm đặc sắc cùng những dịch vụ tốt nhất nhằm phục vụ hết sức mình với du khách tới vui chơi. Trong khuôn khổ Hội chữ, không gian quanh khu vực Hồ Văn sẽ tái hiện quang cảnh trường thi: Nhà Thập đạo, chòi canh, lều chõng...; khu vực làng nghề truyền thống: giấy dó, tranh dân gian, gốm sứ...; khu vực các trò chơi dân gian: nặn tò he, vẽ tranh, ô ăn quan...; Lễ hội Hoa chữ; chợ phiên và ẩm thực dân gian; Cuộc thi ảnh Hội chữ Xuân…

Khu vực Lều chõng tái hiện cuộc thi cho các sĩ tử thời xưa

Sản phẩm tò he được được tỉ mỉ từ đôi bàn tay điêu luyện của các nghệ nhận tại Hồ Văn - Văn Miếu

Sự trở lại của Tiến sĩ Cung Khắc Lược đem lại nhiều cảm hứng cho du khách

Bên cạnh sự góp mặt của hơn 60 ông Đồ nổi tiếng khắp mọi miền cùng tụ họp lại trong ngày hội lớn nhất trong dịp Tết Nguyên Đán thì việc cụ Cung Khắc Lược đồng ý tham dự lần này chính là điểm nhấn rất đáng chú ý và được hầu hết du khách trên cả nước đón chờ.
Những ai đam mê nghệ thuật thư pháp hẳn sẽ thuộc nằm lòng bốn chữ “Hòa, Bách, Nguyện, Lược”. Đó chính là tên của bốn nhà thư pháp Việt nổi tiếng được mệnh danh “tứ trụ” thư pháp Việt Nam: Thanh hoằng khê Lê Xuân Hòa, Lỗ công Nguyễn Văn Bách, Vĩnh nguyên Lại Cao Nguyện và Nam ba cầm văn Cung Khắc Lược.
Trong số bốn tứ trụ của làng nghệ thuật ấy, nay chỉ còn mình thầy Cung đủ sức “chơi xuân”, dù ông đã thuộc lớp người “xưa nay hiếm”. Hình ảnh của ông với bút tàu, giấy đỏ đã gắn bó với khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhiều năm. Sự trở lại của ông trong Hội chữ năm nay làm thỏa lòng mong đợi của nhiều người yêu mến nghệ thuật thư pháp.

Cụ Cung Khắc trở lại đem đến nhiều sức hút cho Hội chữ xuân 2019
Cụ Cung Khắc trở lại đem đến nhiều sức hút cho Hội chữ xuân 2019

Phù hợp với toàn bộ các lứa tuổi

Mục tiêu Hội chữ xuân 2019 đặt ra nhằm phù hợp với toàn bộ lứa tuổi trên cả nước. Chương trình tái hiện không gian văn hóa Sĩ tử đi thi trình diễn thư pháp gắn với đặc trưng di tích: Hiếu học – Tôn sư – Trọng đạo để giúp giới trẻ hiện nay hiểu hơn, thêm kính trọng hơn về nền văn hoá dân tộc. Ngoài ra, Hội cũng là nơi để những người trẻ lẫn những bác trung niên có dịp được trải nghiệm thêm về các trải nghiệm thực tế đa dạng sản phẩm du lịch phù hợp gắn với đặc trưng khu di tích để phát triển điểm đến Hồ Văn - quảng bá rộng rãi di tích tới các nước khác trên Thế giới.

Không gian mang hơi hướng cổ xưa chính là điểm khác biệt thu hút cả những cụ trung niên đến chụp ảnh
Bài viết trên đã nêu rõ cho bạn đọc thấy bất ngờ thú vị về Hội chữ xuân đang từng bước thành công và trở thành điểm đến được ưa chuộng nhất trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua. Còn chần chừ gì nữa mà bạn không đem theo bạn bè và những người thân trong gia đình tới trải nghiệm Hội chữ xuân 2019 trong mấy ngày cuối chương trình tại Hồ Văn – Văn Miếu cơ chứ.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

NHỮNG HOẠT ĐỘNG HẤP DẪN KHÔNG THỂ BỎ QUA TRONG NGÀY HỘI CHỮ XUÂN 2019

Chiều 29/1, tại khu vực hồ Văn thuộc di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) đã diễn ra lễ khai mạc Hội chữ Xuân Kỷ hợi 2019 với nhiều hoạt động ý nghĩa thu hút đông đảo người dân Thủ đô và các tỉnh lân cận đến tham quan. Hội chữ Xuân Kỷ Hợi 2019  với mục đích tạo ra sân chơi lành mạnh để 60 người viết thư pháp Hán-Nôm và Quốc ngữ có dịp trổ tài và mang đến cho công chúng những bức thư pháp đẹp với nhiều ước nguyện tốt lành. Hãy cùng Hovanvanmieu điểm qua những hoạt động thú vị trong dịp Hội chữ xuân 2019 nhé!
Khung cảnh Hội chữ xuân tưng bừng tại Hồ Văn - Văn Miếu

Mở đầu bằng màn trình diễn thư pháp đặc sắc

Những hoạt động được dàn dựng công phu bởi các nghệ sĩ, và nghệ nhân nổi tiếng đến từ mọi miền của tổ quốc, những màn biểu diễn thư pháp diễn ra hứa hẹn giống như một cuộc thi tranh tài ở tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống. Từ những màn trình diễn ca nhạc truyền thống, cho đến những tiết mục nhảy hiện đại đến từ các tài năng. Tham quan không gian Hồ Văn, nhiều bạn trẻ đã tranh thủ “sống ảo” bởi không gian diễn ra hoành tráng, lung linh không khác gì một buổi dạ hội.

Màn trình diễn thư pháp tiếp lửa cho ngày Hội chữ xuân 2019

Hoạt động xin chữ thường niên thu hút đông đảo du khách tới tham dự

Thường là từ mùng 2 Tết trở đi, mọi người đã bắt đầu kháo nhau đi xin chữ. Từ người lớn tuổi cho đến thanh niên, học sinh. Gần đây, việc xin chữ đầu năm đã trở thành một trào lưu của người trẻ tuổi, tạo thành một văn hóa chơi chữ mới.
Sau 5 năm tổ chức thử nghiệm, Hội Chữ Xuân nay đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của người Hà Nội mỗi khi Tết đến xuân về. Với giá trị lịch sử – văn hóa đặc sắc, hoạt động đã góp phần vào công cuộc bảo tồn những nét đẹp truyền thống của người Việt và được đông đảo công chúng đón nhận và hưởng ứng. Đặc biệt, kể từ năm 2018, Hội Chữ Xuân sẽ được tổ chức một cách quy củ, chuyên nghiệp và chặt chẽ hơn, thể hiện qua kỳ thi sát hạch vô cùng khắt khe nhằm chọn ra những ông đồ xuất sắc nhất, mang đến cho khách tham quan những tác phẩm thư pháp chất lượng nhất. Không chỉ là nơi để du khách được sống lại những điều hoài cổ xưa kia mà còn là địa điểm trải nghiệm vô cùng độc đáo phù hợp với mọi độ tuổi, đặc biệt là lứa trẻ nhỏ.

Các gian ông Đồ luôn là điểm dừng chân của rất nhiều du khách tới xin chữ

Trải nghiệm không gian sĩ tử

Đến với Hội chữ xuân 2019 lần này, du khách, đặc biệt là các bạn nhỏ có dịp để trải nghiệm thực tế không gian sĩ tử thời xa xưa, được tự mình tham dự một cuộc thi về thư pháp dưới sự kèm cặp của những ông đồ chuyên nghiệp.
Điều mà khiến cho các sĩ tử hào hứng nhất đó là có các cuộc thi viết thư pháp diễn ra, nó khác so với các cuộc thi thông thường trên trường hay trong lớp. Bởi tính gay go, quyết liệt không có nhiều mà thay vào đó là sự thư thái phô diễn đức tính quý báu qua mặt chữ.

Các bạn nhỏ thích thú với lớp "Sĩ tử nhí"

Du khách được tự tay làm giấy dó theo đúng quy chuẩn từng bước

Nhiều người chưa biết: Nguyên liệu làm ra giấy dó đó là cây gió là vỏ cây dó được nấu và ngâm trong nước vôi với thời gian ba tháng, sau đó được nấu cách thủy khoảng 3 ngày 2 đêm cho đến khi ngửi thấy mùi thơm của vỏ cây được nấu chín nhừ hoặc thấy phần thịt của vỏ cây dó trong lại. Giã bằng cối và chày cho đến khi thành một dạng bột nhuyễn rồi cho bột dó vào một cái rá to có đường kính một mét được đan bằng tre để đãi sạch nước vôi, gọi là “đãi bìa”. Tất cả nguyên liệu đã được các nghệ nhân chuẩn bị sẵn. Đến với Hội chữ xuân, du khách được theo dõi, quan sát lần lượt từng quy trình sản xuất ra giấy dó. Sau đó du khách sẽ được quan sát nghệ nhân làm thử rồi dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân mọi người được seo giấy bằng “ liềm seo”. Sau công đoạn seo giấy là ép giấy rồi đem phơi khô để được những tờ giấy dó mịn và trắng thơm dùng để viết hoặc vẽ hay làm đồ lưu niệm. Một số du khách tỏ ra thích thú với việc ép hoa lá vào trong tờ giấy dó để được những tờ giấy nghệ thuật do chính tay mình làm ra.

Hội chữ xuân 2019 là dịp trẻ có cơ hội trải nghiệm tỉ mỉ các bước trong quy trình làm giấy dó

Tổ chức các trò chơi dân gian

Tết đến xuân về là lúc các hoạt động vui xuân biểu diễn nghệ thuật diễn ra tưng bừng. Tại Hội Chữ Xuân diễn ra tại Hồ Văn – Văn Miếu, du khách sẽ mãn nhãn với các tiết mục văn nghệ và trải nghiệm các trò chơi dân gian đặc sắc như ô ăn quan, kéo co,.. Hoạt động này không những cho trẻ những giây phút giải trí thú vị mà còn đem lại nhiều ý nghĩa nhân văn mang tinh thần dân tộc sâu sắc.

Các trò chơi dân gian đem lại nhiều ý nghĩa nhân văn, gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau
Các trò chơi dân gian đem lại nhiều ý nghĩa nhân văn, gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau

Thả đèn hoa đăng

Nếu đã phải lòng Hồ Văn vào đêm và muốn sống trọn những khoảnh khắc tuyệt vời hiếm có tại đây, bạn nhất định phải thả đèn hoa đăng trên dòng sông tại gò Kim Châu thơ mộng, ngắm nhìn những chiếc đèn lấp lánh kết từng chùm, từng vạt rồi rẽ lối dưới mặt nước êm đềm buổi đêm khiến con người ta đắm say, xao xuyến. Tham dự lễ hội hoa đăng tại Hội chữ xuân 2019, du khách sẽ hiểu được ý nghĩa vô cùng nhân văn: Mỗi một ngọn đèn hoa đăng trên tay là một lời nguyện cầu tốt đẹp, mỗi một ngọn đèn hoa đăng được thắp lên là một tâm niệm thiện lành, an lạc cho bản thân và mọi người, xóa tan mọi khổ đau, ưu phiền, mang đến niềm an vui, hạnh phúc.

Với chi phí hợp lý, hoa đăng được bày bán đa dạng màu sắc tại quầy lễ tân
Với chi phí hợp lý, hoa đăng được bày bán đa dạng màu sắc tại quầy lễ tân

Hoa đăng rợp bóng mặt hồ Gò Kim Châu
Hoa đăng rợp bóng mặt hồ Gò Kim Châu
Bài viết trên đã nêu rõ cho bạn đọc thấy những lý do khiến Hội chữ xuân đang từng bước thành công và trở thành điểm đến được ưa chuộng nhất trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua. Còn chần chừ gì nữa mà bạn không đem theo bạn bè và những người thân trong gia đình tới trải nghiệm Hội chữ xuân 2019 trong mấy ngày cuối chương trình tại Hồ Văn – Văn Miếu cơ chứ.

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA HỘI CHỮ XUÂN DIỄN RA TẠI HỒ VĂN - VĂN MIẾU

Hội Chữ Xuân thực sự đã trở thành nét đẹp văn hóa hấp dẫn và là món ăn tinh thần không thể thiếu trong dịp tết đến, xuân về. Diễn ra trong vòng khoảng 20 ngày trước, trong và sau tết sự kiện đã lan tỏa được nhiều gia trị nhân văn thuộc về truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Hãy xem qua những giá trị tốt đẹp mà sự kiện hội chữ xuân đã mang đến qua bài viết dưới đây nhé!

Rất nhiều du khách ghé thăm Hồ Văn để xin chữ trong ngày đầu năm

Hướng đến giá trị tinh thần cao đẹp

Hình ảnh ông đồ cắm cúi trên mảnh giấy điều đỏ, phóng bút “rồng bay, phượng múa” để viết chữ cho những người đến xin tại khuôn viên di tích Hồ Văn đã mang đến nhiều cảm xúc khó quên.
Sân khấu cũng chính là nơi các bạn trẻ tụ tập học nhóm
Cả người cho chữ và người xin chữ đều vui vẻ, thành tâm gửi theo nét chữ tâm nguyện về những điều tốt lành. Khi nhu cầu xin chữ và viết thư pháp ngày càng rộng mở, Hội chữ Xuân tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám trở thành nơi tụ hội những người yêu nghệ thuật thư pháp và nơi người dân Thủ đô đến vui chơi, xin chữ đầu năm.
=>XEM THÊM TẠI: NHỮNG HOẠT ĐỘNG HẤP DẪN DIỄN RA TRONG NGÀY HỘI CHỮ XUÂN TẠI HỒ VĂN - VĂN MIẾU
Bước chân vào Hội chữ Xuân Kỷ Hợi, người ta được đắm chìm trong một không gian nghệ thuật thư pháp với cách bài trí gần gũi, hấp dẫn đậm chất hoài cổ. Đó là những lều tre để các ông đồ ngồi viết thư pháp; là quang cảnh trường thi với nhà Thập đạo, chòi canh, lều chõng; là nơi trưng bày những bức thư pháp tuyệt đẹp, là những góc trang trí mang văn hóa Tết của vùng đồng bằng Bắc Bộ, các chương trình nghệ thuật truyền thống... Cách bài trí, sắp đặt hài hòa với không gian di tích, chuyển tải khéo léo tinh thần của Hội chữ Xuân Kỷ Hợi là hướng đến văn hiến.
Tiến sĩ Cung Khắc Lược luận và cho chữ tại di tích Hô Văn

Gìn giữ những nét đẹp nhân văn của dân tộc

Phong tục xin chữ đầu năm được khôi phục, đó là điều rất quý. Bởi đối với các ông đồ, tham gia Hội chữ Xuân với mục đích chính là mong muốn giới thiệu nét đẹp truyền thống thư pháp đến đông đảo nhân dân và cũng để thể hiện khả năng viết thư pháp của mình. Được viết thư pháp, trao lại niềm vui cho khách trong những ngày đầu năm mới, được hoạt động tại một không gian di sản văn hóa là điều ai cũng phấn khởi.
Tưng bừng khai mạc Hội chữ Xuân tại Hồ Văn - Văn Miếu
Tại các gian hàng khác cũng rất đông người đến xin chữ và đến xem các ông đồ thể hiện khả năng viết thư pháp, đặc biệt là gian hàng của thư pháp Cung Khắc Lược. Không chỉ là người lớn tuổi mà rất đông thanh niên, thậm chí cả trẻ nhỏ theo cha mẹ đến xin chữ. Không chen lấn xô đẩy, không vội vã như thường thấy ở những sự kiện đông người khác, khách đến đây đều mang tâm niệm đến thưởng chữ, xin chữ do vậy đều văn minh trong ứng xử.

Tạo ra niềm vui của đất nước, con người trong thời khắc chuyển giao của đất trời

Hội chữ xuân hấp dẫn không chỉ có các hoạt động xin và tặng chữ mà còn đặc sắc bởi các hoạt động xung quanh. Tham gia “Hội chữ Xuân Kỷ Hợi 2019”, du khách được thưởng thức và tham gia lễ hội hoa đăng thả đèn xuống mặt hồ; thưởng thức các tiết mục  ca nhạc dân gian tổng hợp, quan họ, ca trù, hát xẩm, hát xoan, bài chòi, chèo, chầu văn...; tham gia trò chơi dân gian như: Bịt mắt bắt dê, ô ăn quan, đập niêu đất, nhảy sạp, kéo co ngày đầu xuân; trải nghiệm gói bánh chưng, giới thiệu một số món ăn truyền thống của Việt Nam…
Các hoạt động hấp dẫn xoay quanh ngày hội chữ xuân tại Hồ Văn

Ngoài ra 3 khu tiểu cảnh tại khuôn viên Hồ Văn cũng thu hút được rất nhiều du khách bởi với nghệ thuật sắp đặt và cảnh quan mang đậm nét đẹp của những ngày tết.
Du khách thích thú trải nghiệm chụp ảnh tại các khu tiểu cảnh trong Hồ Văn
Sự kiện Hội chữ Xuân vẫn đang diễn ra cho đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch, hãy cùng bạn bè và người thân ghé thăm quan để tận hưởng không khí tết ngay bạn nhé!
Nhiều gia đình Tổ chức tham gia Hội chữ xuân trong dịp tết Nguyên Đán

=> XEM THÊM TẠI: ĐỘC ĐÁO VỚI BA KHU TIỂU CẢNH TRONG NGÀY HỘI CHỮ XUÂN TẠI HỒ VĂN - VĂN MIẾU